Đạt Ma sư Tổ, người đã vượt ngàn dặm sang đông độ chỉ để truyền tâm ấn, thứ không hình không bóng nhưng lại là gốc rễ của mọi pháp môn tu tập. Chúng ta sẽ không chỉ nghe mà còn suy gẫm, thấm dần để rồi từ đó quay về nhìn lại chính mình như một cách đồng hành trên con đường tâm linh, là một nhân duyên lớn cho sự tỉnh thức ngày mai.
Giữa cuộc đời vô thường bao điều thị phi như mây nổi, lòng người cứ mãi theo đuổi điều được mất thiện ác đúng sai. Đa phần chúng ta vẫn thường tin rằng tu hành là để trở nên hiền lành, để làm điều thiện để được phước tránh họa. Nhưng có khi nào ta dừng lại tự hỏi liệu sự thiện mà ta ôm ấp có phải là cứu cánh tối hậu của đạo, hay chỉ là một lớp vỏ tinh tế hơn của bản ngã? Một lớp áo đẹp đẽ nhưng vẫn là áo chưa phải chính mình.
Có một lời dạy cổ xưa như tiếng chuông lặng lẽ giữa đêm sâu, chặt đứt tâm thiện mới thấy chân tâm. Câu ấy khiến người nghe sửng sốt, sao lại chặt đứt tâm thiện? Không phải Phật pháp luôn khuyên con người hướng thiện đó sao? Nhưng nếu ta ngồi yên thở chậm lại, lắng vào lòng một chút sẽ thấy câu nói ấy không phải là phủ nhận thiện mà là chỉ cho ta một con đường cao sâu hơn. Con đường vượt qua nhị nguyên, nơi chẳng còn thiện chẳng còn ác chỉ còn chân tâm thanh tịnh vốn sẵn có không sinh không diệt.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma, vị tổ khai sáng thiền tông trung hoa chính là người từng dạy rằng không nghĩ thiện không nghĩ ác, ngay khi ấy cái gì là bản lai diện mục của ngươi? Một câu hỏi đơn sơ mà như mũi kiếm bén chặt đứt hết mọi vọng niệm mọi tư tưởng phân biệt. Thiện hay ác cũng là hai đầu của một sợi dây trói buộc, khi còn vướng trong ý niệm ta đang thiện thì chưa thấy được cái ta ấy vốn là giả tạm sanh diệt theo vọng tưởng.
Có một người từng đến gặp một vị thiền sư và hỏi, làm sao để tâm tôi trở nên trong sạch hơn? Vị thiền sư nhìn ông ta rồi mỉm cười đáp, mang cái tâm dơ của ông ra đây ta rửa cho. Người kia chợt ngẩn ra vì không biết cái tâm mình ở đâu. Tâm vốn vô tướng, tâm không thể nắm bắt càng không thể gột rửa bằng ý niệm. Muốn thấy tâm thì phải buông mọi phân biệt kể cả thiện. Vậy khi Bồ Đề Đạt Ma nói đến việc chặt đứt tâm thiện, ngài không khuyến khích điều ác cũng không phủ nhận thiện hạnh mà là chỉ ra rằng, chân tâm thanh tịnh chỉ hiện khi mọi đối đãi trong tâm được buông bỏ.
Còn tâm còn so đo thiện với ác ta vẫn đang ở ngoài cửa đạo. Thưa quý vị, chúng ta sẽ cùng lắng nghe những câu chuyện về Đạt Ma sư Tổ, người đã vượt ngàn dặm sang đông độ chỉ để truyền tâm ấn, thứ không hình không bóng nhưng lại là gốc rễ của mọi pháp môn tu tập. Chúng ta sẽ không chỉ nghe mà còn suy gẫm, thấm dần để rồi từ đó quay về nhìn lại chính mình như một cách đồng hành trên con đường tâm linh, là một nhân duyên lớn cho sự tỉnh thức ngày mai.
Phần một, buông thiện ác trở về bản tâm. Trong cuộc sống, chúng ta thường phân biệt giữa thiện và ác đúng và sai. Tuy nhiên trong giáo lý của Thiền tông, đặc biệt là qua lời dạy của tổ Bồ Đề Đạt Ma việc vượt qua sự phân biệt này là cần thiết để đạt đến chân tâm. Câu nói không nghĩ thiện không nghĩ ác ngay khi ấy cái gì là bản lai diện mục của ngươi? Ý nghĩa câu nói, câu hỏi này của Tổ Đạt Ma nhằm chỉ ra rằng khi tâm không còn phân biệt thiện ác đúng sai thì bản chất thật sự của chúng ta hay chân tâm mới hiển lộ.
Việc chấp vào thiện hay ác đều là những vọng niệm che lấp chân tâm vốn thanh tịnh. Câu chuyện người thợ mộc và chiếc ghế, ở một ngôi làng nhỏ có một người thợ mộc tên là Minh. Anh nổi tiếng với những chiếc ghế đẹp và chắc chắn. Một ngày nọ, một vị sư già đến và yêu cầu Minh làm cho mình một chiếc ghế đặc biệt, một chiếc ghế không thiện không ác. Minh bối rối hỏi, thưa thầy làm sao có thể làm một chiếc ghế không thiện không ác? Vị sư mỉm cười, hãy làm chiếc ghế như chính nó không thêm bớt không gán cho nó bất kỳ ý nghĩa nào.
Minh suy nghĩ và bắt đầu làm việc, anh không nghĩ về việc chiếc ghế sẽ được khen hay chê đẹp hay xấu, anh chỉ tập trung vào từng đường cắt từng mối nối để chiếc ghế hiện hữu như nó vốn là. Khi hoàn thành, vị sư ngồi lên chiếc ghế và nói, đây chính là chiếc ghế không thiện không ác bởi vì anh đã làm nó với tâm không phân biệt không chấp trước. Minh ngộ ra rằng khi tâm không còn phân biệt mọi việc đều trở nên thanh tịnh và đúng đắng.
Ý nghĩa câu chuyện, khi chúng ta buông bỏ sự phân biệt thiện ác đúng sai tâm trở nên tỉnh lặng và trong sáng, chính trong trạng thái đó chân tâm mới hiển lộ và chúng ta sống một cách chân thật và tự nhiên.
Phần hai, gió không lay được núi. Trong cõi đời này tâm ta như cánh đồng mênh mông trước những ngọn gió, gió khen gió chê gió vinh gió nhục gió buồn gió vui. Tâm chưa vững gió vừa đến đã lung lay, nhưng có một loại tâm như đỉnh núi cao sừng sững dẫu bão giông giận giữ vẫn đứng yên đó là chân tâm. Người tu hành nếu mãi còn chạy theo thiện để tránh ác cũng chưa thoát khỏi những làn gió thế gian. Đạt Ma Tổ Sư từng dạy đạo là tâm bất động giữa trăm ngàn duyên cảnh, tâm bất động ấy không phải vô cảm hay chai lì mà là thứ đã vượt khỏi ranh giới đối đãi.
Giống như núi đứng giữa Trời, dẫu gió có mạnh đến đâu vẫn không sao lay chuyển được. Câu nói tâm như núi, không lay động trước gió khen chê mới thấy rõ bản tính vô niệm. Ý nghĩa câu nói, trong đời sống chúng ta thường để lòng mình bị xao động bởi ngoại cảnh, một lời khen khiến ta vui một lời chê làm ta phiền muộn. Cái tâm ấy là vọng tâm luôn dao động, nhưng trong thiền ta được nhắc nhớ về tâm vô niệm nơi không sinh khởi phân biệt không bị ngoại duyên làm loạn, tâm đó chính là chân tâm.
Nó không phải lạnh lẽo hay vô tình mà là rộng lớn sáng suốt và thản nhiên cũng như núi không sợ gió, người có chân tâm không sợ đúng sai hơn thua. Họ không chạy theo thiện, không trốn tránh ác mà thấy rõ tất cả đều là bóng hiện rồi tan. Câu chuyện người lái đò và kẻ mắng chửi, tại một khúc sông nhỏ có một người lái đò tên Tâm. Suốt bao năm qua ông chèo đò đưa khách sang sông không lấy tiền, người ta gọi ông là lão khùng vì không ai hiểu sao ông sống được.
Một ngày kia có một người khách sang sông, vừa đặt chân lên bờ ông ta lớn tiếng mắng Lão Tâm. Ông tưởng mình tốt lắm sao? Làm vậy để người ta khen à đồ giả tạo. Lão Tâm chỉ mỉm cười không nói lời nào, người khách tức giận hỏi sao ông không cãi lại, sợ à? Lão Tâm đáp, trên thuyền của tôi chỉ có nước không có chỗ cho những lời khen chê, ai muốn qua sông tôi đưa ai muốn mắng tôi lắng nghe. Người khách sững lại đỏ mặt, lần đầu tiên ông cảm thấy mình nhỏ bé và vô lý, ông ngồi xuống bờ sông nhìn nước trôi mà lòng bỗng nhẹ như mây.
Ý nghĩa câu chuyện, tâm người tu không phải để được thương hay tránh bị ghét mà là để trở về với trạng thái như núi, trầm lặng kiên cố không bị ngoại duyên lay động. Chỉ khi đó chân tâm mới thật sự hiển lộ như mặt hồ lặng gió soi rõ cả Trời xanh.
Phần ba, người không tâm giữa trần gian có mặt. Chúng ta sinh ra với cái tôi luôn luôn bận rộn, bận thương bận ghét bận tính toán bận phân biệt. Dù đi đâu làm gì cũng mang theo cái tâm ấy nên không bao giờ thật sự thảnh thơi. Người đời hay bảo hãy sống có tâm nhưng Đạt Ma Tổ lại hỏi tâm ông đâu mang ra đây ta xem? Câu hỏi ấy như sét đánh vào tâm người học đạo, tâm mà ta tưởng là mình kỳ thực chỉ là vọng tưởng sinh diệt.
Chân tâm thì không thể nắm bắt, cũng chẳng thể dùng lời mà tả. Muốn thấy được nó phải buông cả ý niệm về thiện, thậm chí buông luôn cả ý niệm về ta đang tu hành. Người không còn bám vào thiện, không trốn tránh ác, không chấp trước vào cái gì ấy mới thật sự có mặt giữa trần gian bằng bản tâm rỗng rang như hư không. Câu nói tâm không trụ vào đâu là đạo Bồ Đề Đạt Ma. Ý nghĩa câu nói, tâm không trụ vào đâu không có nghĩa là tâm trống rỗng hay vô tình mà là một trạng thái tự tại tuyệt đối, không còn bám víu vào danh lợi đúng sai thiện ác.
Tâm ấy như mây Trời trôi qua mà chẳng để dấu, tâm ấy cũng như gương sáng phản chiếu mọi hình nhưng chẳng giữ lại hình nào. Khi còn cho rằng tôi đang tu, tôi đang làm điều thiện tức là vẫn còn cái tôi ở đó vẫn còn tâm chấp vào pháp. Mà hễ còn chấp thì chân tâm chưa lộ, chặt đứt cả tâm thiện không phải để trở thành kẻ vô đạo mà là để vượt lên tất cả như người giữa trần gian mà không bị trần gian che phủ.
Câu chuyện đứa trẻ và ngọn lửa, ngày xưa ở một làng quê miền núi có một vị lão tăng tên là Tịnh Tâm. Một hôm có cậu bé tên Bi đến xin học đạo, lão tăng hỏi con đến học đạo muốn cầu điều gì? Bi đáp, con muốn học để làm người tốt. Lão Tăng lắc đầu làm người tốt chưa đủ, hãy học để không còn là người xấu cũng không còn là người tốt. Bi ngơ ngác. Tối hôm đó lão tăng đưa cho Bi một cây nến và bảo, hãy nhìn ngọn lửa này khi thấp lên nó sáng khi tắt đi nó về đâu?
Bi không trả lời được, lão tăng nói tiếp tâm con cũng vậy. Khi con nghĩ mình đang thiện đang tốt, tức là ngọn lửa đang cháy nhưng nó vẫn còn sinh còn diệt. Muốn thấy được chân tâm con phải nhìn thấy cả khi ngọn lửa không còn nơi không thiện không ác không tốt không xấu, khi ấy con mới thật sự học đạo. Nhiều năm sau Bi trở thành một thiền giả, người làng hỏi ông đã học được gì? Ông chỉ mỉm cười, tôi đã học cách để tâm mình không còn chỗ trụ như ngọn lửa cháy rồi tắt mà chẳng ở đâu.
Ý nghĩa câu chuyện, chúng ta không cần chạy trốn thế gian, cũng không cần cố gắng làm điều gì thật lớn lao, chỉ cần nhìn lại tâm mình từng ý niệm thiện hay ác rồi lặng lẽ buông xuống. Khi tâm không còn chỗ để trụ thì chân tâm liền hiển lộ như mặt Trời chẳng cần tìm vẫn rạng rỡ sau mây.
Phần bốn, không thiện không ác mới là người tu. Trong mắt người đời tu hành là làm lành tránh giữ, là phóng sinh bố thí tụng kinh giữ giới. Nhưng với thiền tông đó chỉ là khởi đầu, chiếc bè đưa người qua sông không phải bến bờ sau cùng. Đạt Ma Tổ từng nói, chỉ khi không còn phân biệt thiện ác mới có thể bước vào cửa đạo. Nói vậy không phải phủ nhận công đức của việc làm thiện mà là nhấn mạnh, nếu còn chấp vào việc mình làm là thiện thì vẫn còn tâm phân biệt, vẫn chưa thoát được cái ngã vi tế ẩn sau thiện tâm.
Người tu thật không còn thấy mình là người làm thiện, họ làm như hơi thở tự nhiên không trụ không mong cầu. Có người từng hỏi, nếu không phân biệt thiện ác sao biết sống đúng? Thiền sư chỉ mỉm cười, khi tâm không còn phân biệt thì hành động cũng sẽ đúng, vì nó sinh ra từ trí tuệ không từ bản ngã. Câu nói, người tu chân thật không trụ vào thiện cũng chẳng dính mắc nơi ác. Ý nghĩa câu nói, tâm phàm phu thường bị lôi kéo bởi hai cực, hoặc cố gắng làm thiện hoặc tránh điều ác nhưng cả hai hướng này nếu còn chấp đều là vọng tâm.
Chúng là hai đầu của một sợi dây mà hễ nắm bên nào thì cũng đang bị trói. Thiền sư nhìn thẳng vào bản chất của mọi sự, cái gì có đối đãi đều không thật, thiện mà đối với ác thì cũng chỉ là một dạng khái niệm không phải chân tâm. Cũng như ánh sáng chỉ hiện khi có bóng tối làm nền, ánh sáng ấy chưa phải vĩnh hằng. Tâm người tu chân thật thì vượt qua tất cả, hành xử từ trí huệ không từ thiện ác, không từ mong cầu báo đáp.
Câu chuyện người đàn bà làm thiện, ở một ngôi làng nọ có bà cụ tên Tư suốt đời làm việc thiện, giúp đỡ hàng xóm bố thí cho kẻ nghèo dựng am cúng Phật, ai ai cũng gọi bà là người lành nhất làng. Một ngày kia có một nhà sư hành cước đi ngang qua, bà Tư mời vào nhà dâng trà rồi kể lễ, bạch thầy cả đời con làm thiện chẳng làm điều ác mà lòng vẫn thấy bất an. Con lo lỡ kiếp sau vẫn bị đọa. Vị sư trầm ngâm nhìn ra sân nơi có cây chuối già đang trổ buồng.
Ngài hỏi, bà có thấy cây chuối kia không? Dạ thấy, nó đang ra buồng chuối chín. Sau khi trổ buồng xong nó sẽ thế nào? Nó sẽ chết. Chuối là vậy, vị sư nhẹ giọng cái thiện bà đang làm cũng giống như buồng chuối ấy đẹp thơm nhưng vẫn thuộc về dòng sinh diệt, khi bà còn thấy mình làm thiện thì cái ngã vẫn còn mà hễ còn ngã thì chưa vào đạo. Bà cụ rơi nước mắt chắp tay cúi đầu, từ hôm đó bà vẫn làm việc lành nhưng không còn mong cầu, không còn nghĩ mình đang tu thiện, bà sống nhẹ nhàng như gió thoảng qua rặng tre.
Ý nghĩa câu chuyện, thiện nếu còn chấp vào cũng là sợi dây trói. Người tu chân thật là người thấy rõ điều đó nên hành thiện mà không trụ không mong, khi ấy mỗi việc làm đều thanh tịnh như hoa nở không vì ai như nắng chiếu không đòi đáp trả.
Phần năm, cửa đạo không dành cho kẻ thiện. Câu nói ấy nghe ra thật nghịch lý, cửa đạo không dành cho kẻ thiện nhưng nếu chiêm nghiệm sâu sắc sẽ thấy trong đó chứa đựng một sự phá chấp rất lớn, cái nhìn thấu tận gốc rễ của Đạt Ma Tổ. Vì sao? Bởi kẻ thiện ở đây không phải là người sống tử tế mà là người chấp mình đang thiện, khi tâm còn dính mắc vào ý niệm ta đang làm lành, ta cao thượng hơn người khác thì đó chính là một hình thức ngã mạn vi tế, càng tu càng xa đạo.
Cửa đạo nơi chân tâm hiển lộ là cánh cửa không mở cho những ai còn mang theo danh ngã, niệm mà chấp mình là người thiện cũng là một loại danh. Trong thiền phá thiện chấp là một trong những bước khó nhất vì nó ẩn sau lớp áo đạo đức dễ khiến ta tưởng mình đang đi đúng, câu nói chỉ khi không còn thấy mình thiện mới thật sự bước vào cửa đạo. Ý nghĩa câu nói, người đời thường nghĩ thiện là nền tảng để vào đạo nhưng trong thiền thiện chưa phải là cứu cánh mà chỉ là phương tiện.
Nếu người tu không thấy rõ điều này dễ rơi vào cái bẫy của chính mình, càng làm lành càng nghĩ mình cao quý càng nuôi lớn cái ngã. Cửa đạo không phải nơi để khoe công đức hay so sánh công phu, nó là nơi vô môn không có cửa để vào, không có bảng chỉ đường không có ai canh giữ cũng chẳng ai đón chào, người nào đủ nhẹ đủ rỗng đủ buông tự khắc đi vào. Đạt Ma Tổ từng ngồi chín năm quay mặt vào vách không phải vì giận đời mà để chỉ thẳng, đạo không ở ngoài cảnh cũng không ở nơi thiện, đạo ở nơi tâm rỗng rang không dính mắc.
Câu chuyện ba kẻ đến chùa, ngày xưa có một ngôi chùa cổ nơi một vị thiền sư ẩn cư nhiều năm. Nghe danh ngài, ba người cùng đến cầu đạo. Người thứ nhất giàu có mang theo rất nhiều lễ vật vàng bạc gấm vốc hương hoa, ông quỳ xuống và nói con xin cúng dường để học đạo. Vị sư nhìn rồi nói cửa đạo không mở bằng của cải. Người thứ hai là bậc học giả đọc thông kinh sách, ông đến ngồi ngay ngắn và nói con hiểu rất rõ về các tầng đạo lý con xin được vào học. Vị sư lắc đầu, cửa đạo không mở bằng tri thức.
Người thứ ba quần áo lam lũ dáng vẻ mệt mỏi, anh chỉ cúi đầu con không có gì cả cũng không biết gì cả nhưng con không yên trong lòng. Xin thầy chỉ lối. Vị sư gật đầu ngươi vào được. Ba người ngạc nhiên, vị sư chỉ nói người thứ ba không mang theo gì cũng không mang theo cả cái thiện nên bước chân mới nhẹ, đạo là vậy.
Ý nghĩa câu chuyện, cửa đạo không mở cho những kẻ còn mang theo ý niệm về bản thân kể cả niệm về ta đang tu thiện, đạo chỉ dành cho những ai đủ can đảm buông cả cái thiện để bước vào sự thinh lặng của chân tâm. Nơi không còn ai để làm thiện cũng chẳng còn gì để chứng đắc.
Phần sáu, chặt thiện không phải để làm ác. Người mới nghe đến câu chặt đứt tâm thiện dễ sinh hiểu lầm cho rằng thiền tông phủ nhận đạo đức hay xúi người buông thiện để làm điều sai, nhưng kỳ thực đó là một hiểu sai rất lớn. Thiền không phủ nhận thiện chỉ nhắm đến tầng sâu hơn của thiện, nơi mà người hành thiện không còn vướng vào ý niệm ta là người thiện. Đạt Ma Tổ Sư không dạy người bỏ thiện để sống buông lung, ngài chỉ dạy ta buông cái tâm chấp vào thiện để rồi hành xử với cuộc đời bằng một tâm rỗng rang và vô phân biệt.
Khi ấy mọi hành động tự nhiên sẽ là chánh hạnh, không cần gắng gượng không vì hình thức cũng chẳng để khoe khoang. Nói chặt thiện là để người tu vượt lên khỏi sự giới hạn của phân biệt chứ không rơi xuống hố sâu của tà kiến. Như người muốn bay trước phải bỏ gánh nặng trên vai, gánh ấy nếu là thiện chấp dù đẹp cũng phải rời. Câu nói buông thiện không phải để rơi vào ác mà là để thấy cái thiện không còn bóng của bản ngã.
Ý nghĩa câu nói, tâm thường bị dẫn dắt bởi hai cực. Một là tôi đang làm điều tốt, hai là tôi sợ làm điều xấu, cả hai đều xuất phát từ ngã một bản ngã khéo ngụy trang. Khi hành thiện với tâm cầu phước hoặc để được người khác kính trọng thì thiện ấy đã bị nhuốm màu vụ lợi. Chặt đứt tâm thiện là chặt đứt ý niệm sở hữu chứ không phải từ bỏ từ bi, từ bi chân thật không khởi từ mong cầu không đến từ bản ngã mà khởi từ chỗ thấy người vật ta là một.
Khi ấy thiện hạnh vẫn xảy ra nhưng không còn ai để làm không còn ai để nhận, người làm thiện với tâm rỗng chính là người đã rời khỏi vòng luân hồi thiện ác sống giữa đời mà không dính bụi đời. Câu chuyện giọt nước trong lòng tay, ngày xưa có một người tên là Kha chuyên làm từ thiện. Anh mở trường dạy học xây cầu giúp người nghèo, danh tiếng vang khắp vùng. Một ngày có một ông già đến, dáng vẻ khắc khổ xin Kha chút nước, Kha đang bận tiếp quan lớn nên ra hiệu cho gia nhân đưa nước.
Ông già nhìn Kha hồi lâu rồi nói, ta khát không phải vì thiếu nước mà vì thiếu lòng người. Ngươi làm nhiều việc thiện nhưng tâm ngươi lúc này có phải đang bực vì bị quấy rầy, Kha giật mình đứng lặng. Ông già tiếp, việc ngươi làm là thiện nhưng tâm ngươi chưa sạch, cái thiện ấy như giọt nước trong lòng tay dễ vỡ dễ trôi, chỉ khi ngươi không còn thấy ai là người ban ai là kẻ nhận thì thiện ấy mới là suối nguồn không cạn, từ đó Kha im lặng làm việc lành nhưng không để tên mình lại trên bia đá nữa.
Ý nghĩa câu chuyện, chặt đứt tâm thiện không phải để buông lung mà là để hành thiện một cách vô tâm, không mong báo đáp không khoe khoang không chấp trước. Khi không còn bị cái ta che mờ thì việc làm dù nhỏ cũng thanh tịnh, như ánh nắng chiếu khắp không nghĩ gì mà vẫn sưởi ấm cả nhân gian.
Phần bảy, cái thiện còn trụ cái ngã còn nguyên. Trong đạo Phật, người tu không chỉ học buông cái xấu mà còn phải học buông cả cái tốt, bởi vì nhiều khi chính cái mà ta tưởng là thiện lại là nơi bản ngã ẩn nấp sâu nhất. Khi ta làm điều lành mà khởi tâm tự hào, khi ta hành thiện mà muốn được ghi nhận ấy là dấu hiệu rằng cái ta vẫn còn nguyên vẹn, chỉ đang khoác áo thiện. Đạt Ma Tổ từng dạy rằng khi tâm còn trụ vào thiện thì vẫn chưa rời cái ta nghĩa là nếu ta còn thấy mình đang tu đang làm phước thì hành động ấy tuy đẹp nhưng chưa rỗng.
Nó vẫn chứa cái ngã vi tế, cái tôi đứng sau mọi việc mong nhận lại sự ghi công hay sự kính trọng. Người tu hành theo thiền không chỉ sửa hành vi mà còn phải soi tận đáy lòng, nơi những cái thiện tinh duy nhất cũng cần được thấy rõ và buông xuống. Câu nói cái thiện còn trụ cái ngã còn nguyên, khi thiện tan ngã mới rỗng tâm mới thật sự an. Ý nghĩa câu nói, người tu nếu không thấu rõ cơ chế của cái ngã sẽ dễ nhầm lẫn giữa thiện hạnh và giải thoát.
Họ nghĩ rằng làm nhiều điều lành sẽ giúp mình chứng đạo, nhưng kỳ thực thiện chỉ là phương tiện không phải đích đến, khi dùng thiện để tô vẻ bản ngã thiện ấy đã bị ô nhiễm. Đạt Ma Tổ không phản đối hành thiện nhưng ngài nhấn mạnh rằng nếu còn thấy ta đang thiện thì chưa vào cửa đạo, phải hành thiện như hít thở như mặt Trời chiếu sáng, tự nhiên vô danh vô cầu thì mới thật sự là hành thiện trong vô trụ.
Một người có thể sống giữa đời làm bao việc tốt, nhưng nếu tâm họ vẫn còn thích được khen thích được tôn vinh thì cái thiện ấy là có trụ, trụ vào thiện chính là biểu hiện tinh tế nhất của chấp ngã. Câu chuyện người giữ lò than, ở một ngôi chùa miền Trung có một chú tiểu tên Thiện Pháp. Chú rất chăm làm việc thiện nấu ăn quét chùa giúp người, ai ai cũng quý mến ngợi khen dần dần chú bắt đầu thích nghe những lời tán dương. Và khi không được khen lòng chú sinh phiền não.
Một hôm thiền sư trụ trì giao cho chú một công việc mới, giữ lò than cũ sau chùa nơi không ai lui tới. Ngày chú nhóm than canh lửa không còn ai chú ý tới mình, vài tháng sau chú xuống tóc cạo sạch mặt mũi lem tro nhưng tâm lặng như mặt hồ. Thiền sư đến hỏi, con còn thấy mình đang tu thiện không? Chú mỉm cười dạ không, chỉ thấy việc cần làm thì làm không ai thấy cũng chẳng sao, giống như lửa cháy trong than chẳng cần ai ngợi khen. Thiền sư gật đầu, tốt. Khi thiện không trụ thì ngã cũng rơi, khi ấy mới là lúc đạo bắt đầu.
Ý nghĩa câu chuyện, thiện hạnh chỉ thật sự thanh tịnh khi không còn bóng dáng của bản ngã, cái thiện trụ vào danh tiếng vào sự ghi nhận chỉ là một lớp sơn đẹp cho cái tôi. Người tu cần thấy rõ để rồi buông, buông cho cái tâm rỗng rang như Trời cao để việc thiện tuôn chảy như suối nguồn không tên.
Phần tám, lặng như đất mới giữ được chân tâm. Có một hình ảnh rất quen thuộc trong đạo Phật mà ít người để tâm đến, đất. Đất lặng lẽ hứng chịu mọi thứ, nước mưa rác rưởi phân bón hoa thơm mà không oán không khen không phân biệt, đất dung chứa tất cả mà vẫn lặng lẽ nằm im. Thiền tông cũng vậy, dạy người tu hãy lặng như đất, không phải cam chịu mà là tâm không phân biệt không dính mắc. Người sống trong đời nếu còn thấy ta đang làm điều thiện thì khi gặp điều trái ý dễ khởi phiền, nhưng nếu lòng họ như đất tiếp nhận mọi thứ mà không động thì mới thật sự gìn giữ được chân tâm.
Bồ Đề Đạt Ma không chỉ dạy phá chấp nơi thiện mà còn dạy giữ tâm bất động giữa mọi khen chê được mất, bởi chỉ khi tâm lặng chân tâm mới hiện còn phân biệt thì vẫn là gợn sóng giữa mặt hồ chân như chưa rõ. Câu nói, tâm như đất tiếp nhận mà không giữ chịu đựng mà không oán nuôi dưỡng mà không chấp. Ý nghĩa câu nói, lặng như đất tức là tâm không dao động bởi ngoại cảnh, thiện đến không kêu ác đến không sợ lời khen không vui tiếng chê không buồn.
Khi tâm lặng đến mức đó thì không còn nơi cho bản ngã nương tựa, tức là chân tâm dần hiện rõ. Người hành thiện mà còn trong mong lời khen vẫn chưa lặng, người làm điều lành mà phiền giận khi bị hiểu sai vẫn chưa thấy đạo. Đất dẫu bị chà đạp cũng không oán hờn vì bản tính của nó là nhận mà không giữ. Tâm người tu cũng cần như vậy, tiếp nhận cuộc đời nhưng không để đời in giấu trong tâm. Giữ được tâm như đất tức là giữ được gốc rễ thanh tịnh, từ đó mọi hành vi lời nói đều nhẹ đều sáng không cần cố gắng mà vẫn đúng.
Câu chuyện người cha và mảnh đất cuối làng, ở một làng quê nghèo có ông lão tên Cẩn sống hiền lành trồng rau bên mảnh đất Cha Mẹ để lại. Mảnh đất ấy nhỏ lại cạnh đầm nước không ai muốn khai khẩn nhưng ông giữ gìn như báu vật. Một ngày nọ, có người trong làng du cho ông lão tội chiếm đất công, họ đưa nhau ra xã kiện cáo rùm ben, dân làng chia hai phe người binh người chê. Con trai ông tức giận muốn lên tiếng minh oan cho Cha nhưng ông chỉ lắc đầu, đất này Cha trồng rau để sống, nếu họ cần cứ để họ lấy.
Cái ta giữ được không phải là đất mà là tâm bình, vài tháng sau trận lũ lớn cuốn trôi nhiều ruộng lúa, chỉ mảnh đất ven đầm của ông Cẩn còn lại nguyên vẹn. Vì đất đó thấp nước không làm sạc, những người từng du oan phải xin ông cho cấy nhờ. Ông gật đầu không nhắc lại chuyện cũ, một người hỏi sao bác không giận? Ông cười hiền, đất không biết giận. Mình trồng rau mà ôm sân hận thì rau cũng chẳng xanh.
Ý nghĩa câu chuyện, muốn giữ được chân tâm người tu phải học như đất, tiếp nhận dung chứa mà không phân biệt không oán hận. Khi tâm không khởi phân biệt, không chấp giữ cái thiện của mình thì lòng trở nên rộng sáng và bình an như mặt đất, âm thầm nuôi lớn tất cả mà chẳng bao giờ đòi hỏi điều gì.
Phần chín, làm thiện không dấu vết. Con người ta khi làm điều lành thường có xu hướng để lại dấu ấn trong lòng người khác và cả trong lòng mình. Có người làm một việc thiện rồi cả đời nhắc lại như một công đức lớn lao, có người giúp đỡ ai đó nhưng khi không được biết ơn lại thấy bất công. Đó là vì trong lòng họ thiện vẫn còn dấu vết, một loại dấu vết vi tế khắc sâu vào bản ngã. Trong thiện có một cách hành thiện rất đặc biệt, làm mà như không làm cho mà như không cho.
Tâm ấy gọi là vô trụ, làm điều thiện mà tâm không khởi niệm thiện ấy mới là thiện rỗng rang không để lại dấu chân trên tuyết. Đạt Ma Tổ không bắt bỏ thiện hạnh mà dạy hành thiện như dòng suối chảy qua đá, không để lại vết không ngoái đầu nhìn lại. Bởi khi còn lưu dấu là còn có cái ta đứng sau và cái ta ấy chính là cội gốc của mọi sinh tử. Câu nói làm mà không có người làm cho mà không có kẻ nhận ấy là thiện không giấu vết.
Ý nghĩa câu nói, thiện có hai loại thiện thế gian và thiện vô tướng. Thiện thế gian là những hành động tốt đẹp nhưng thường kèm theo một cái tâm mong đền đáp hoặc ít nhất là sự công nhận. Còn thiện vô tướng là hành động xuất phát từ lòng từ mà không dính mắc không mong chờ, thiện ấy không có dấu chân người như mây bay qua Trời. Người tu hành nếu chỉ dừng ở thiện thế gian dễ bị cái thiện ràng buộc, họ sẽ thấy mình cao hơn kẻ khác thấy mình xứng đáng được trọng vọng.
Nhưng khi làm mà không khởi tâm sở hữu, khi cho mà không nghĩ đến người nhận thì thiện ấy đã thành trí tuệ. Đó là lý do thiền không dạy người tu cầu phước mà dạy buông cả cái được phước vì cái đó tuy tinh tế nhưng vẫn là dây trói. Câu chuyện cái áo và lời cảm ơn, có một vị sư trẻ tên là Minh Đức sống ở một ngôi chùa miền cao. Mỗi mùa đông ngài đều âm thầm gom áo ấm gửi xuống các bản làng nghèo, nhưng ngài không bao giờ ghi tên không để lại địa chỉ.
Một năm nọ, có một phóng viên tìm đến chùa muốn viết bài ca ngợi vị sư từ bi nhất vùng. Sư Minh Đức từ chối nói, nếu tôi xuất hiện trong bài báo thì cái thiện đó không còn là của Phật tánh mà là của cái tôi nhỏ bé. Phóng viên khó hiểu, sư không muốn được người đời biết ơn sao? Ngài mỉm cười, nếu người ta mặc áo ấm mà sống thì tôi vui còn ai nhớ đến tôi hay không điều đó không quan trọng. Việc thiện nếu để lại danh thì như dấu chân trên tuyết sớm muộn cũng tan.
Vài năm sau, một cụ già trong bản khi được hỏi ai là người giúp họ áo ấm mỗi đông chỉ lắc đầu không biết ai cả, chỉ biết mỗi năm gió lạnh đến sau áo. Ý nghĩa câu chuyện, thiện thật sự là thứ không để lại dấu vết không ai nhận công không ai giữ niềm tự hào. Nó xảy ra rồi tan đi như một cơn mưa lành giữa Trời hạ. Người tu cần học hành thiện như vậy, tự nhiên thầm lặng không cần ghi tên, bởi khi tâm không còn lưu lại dấu thì đường về chân tâm mới thông dong nhẹ bước.
Phần mười, tâm thiện nếu không buông sẽ hóa xiềng xích. Tâm hướng thiện là khởi đầu tốt đẹp nhưng nếu giữ mãi tâm ấy mà không hiểu sâu, không thấy rõ sự vi tế của nó thì nó sẽ trở thành xiềng xích vàng trói buộc người tu vào hình thức, vào đạo đức khô cứng vào sự tự hào vi tế và vào vô số cái tôi thiện lành được tô vẽ. Nhiều người nghĩ đã có tâm thiện là đủ, nhưng không ít người vì quá chấp vào điều thiện mà sinh kiêu mạn sinh tâm phán xét, thậm chí sinh phiền não khi thấy kẻ khác không thiện như mình.
Lúc ấy thiện không còn là đường giải thoát mà trở thành gánh nặng vô hình. Đạt Ma Tổ không dạy vứt bỏ thiện mà dạy buông chấp vào thiện, khi không còn thấy mình thiện thì mới có thể sống an nhiên với tất cả, không ràng buộc không đối đãi. Tâm thiện mà không có trí chỉ là sợi dây vàng đẹp nhưng vẫn là dây. Câu nói tâm thiện không buông chẳng khác nào xiềng xích bọc vàng đẹp mà trói. Ý nghĩa câu nói tâm thiện là một phương tiện quý báu, nhưng nếu tâm ấy đi cùng sự chấp trước thì nó lại trở thành một thứ cản trở con đường tâm linh.
Người luôn thấy mình thiện sẽ có xu hướng so sánh chê bai, đòi hỏi người khác cũng phải sống giống như mình, họ có thể mang dáng vẻ từ bi nhưng bên trong lại chứa đầy sự mong cầu và định kiến. Trong thiền trí tuệ phải đi song song với từ bi, từ bi không phải là thương hại mà là sự thấu hiểu, và trí tuệ không phải là khôn ngoan mà là sự buông. Khi buông được cả thiện tâm, hành vi thiện mới thật sự vô nhiễm không ràng buộc không để lại dấu vết trong tâm người làm.
Như người mang áo lông ấm đi trong mùa đông, nếu biết cởi bỏ khi mùa xuân tới thì áo ấy là bạn đường, nếu cố mặc mãi vì tiếc thì sẽ thành gánh nặng. Tâm thiện cũng vậy, giữ đúng lúc buông đúng thời. Câu chuyện sợi dây vàng và chiếc cổng chùa, ở một ngôi chùa cổ có một chú tiểu tên Nhẫn. Chú rất hiền rất chăm làm việc lành, mỗi ngày đều quét sân gánh nước giúp người, nhưng mỗi khi ai đó làm sai chú thường chau mày lắc đầu thậm chí nhắc nhở đầy phán xét, tu gì mà như vậy. Sao không làm điều thiện?
Một hôm, sư phụ gọi chú vào đưa cho một sợi dây vàng óng ánh, bảo đeo vào cổ và giữ suốt ba ngày không được rời. Chú tiểu mừng rỡ đeo sợi dây đi khắp nơi, ai ai cũng ngạc nhiên, sư phụ tặng vàng ư? Chú cảm thấy hãnh diện nhưng đến đêm sợi dây bắt đầu làm cổ chú ngứa khó chịu. Ngày thứ hai, da bắt đầu trầy xước. Ngày thứ ba, chú không chịu nổi nữa chạy đến xin tháo ra. Sư phụ nhìn chú nhẹ nhàng nói, con thấy không dây đẹp mà nếu giữ mãi cũng thành khổ. Cái thiện trong tâm con cũng vậy, nếu không buông đúng lúc sẽ làm con đau mà không hay.
Từ đó chú tiểu vẫn làm điều thiện nhưng không còn nhắc lỗi người khác, cũng không còn thấy mình hơn ai, gương mặt chú nhẹ hơn lời nói cũng ấm hơn. Ý nghĩa câu chuyện, tâm thiện nếu không được soi bằng trí tuệ sẽ trở thành xiềng xích lặng lẽ. Người tu cần biết lúc nào hành, lúc nào buông để không bị vướng vào chính điều lành mình theo đuổi. Khi tâm thiện được giữ bằng tỉnh giác và được buông bằng trí tuệ thì mỗi bước chân đều nhẹ như mây, mỗi việc làm đều mát như gió xuân.
Phần mười một, buông cả thiện tâm giữ lòng vô niệm. Khi mới bước vào đạo người ta học giữ tâm thiện như giữ ngọn lửa giữa gió, nhưng khi bước sâu vào thiền người tu lại học buông cả thiện tâm. Không phải vì thiện là xấu mà vì chấp thiện là gốc của phân biệt và phân biệt là gốc của khổ đau. Bồ Đề Đạt Ma khi truyền pháp không nói nhiều về thiện ác mà chỉ nhấn mạnh trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật, tức là không đi vòng vèo qua ngôn từ hay đạo lý mà nhìn thẳng vào tâm để thấy được cái vô niệm.
Cái không sinh không diệt chính là bản lai diện mục. Để làm được điều ấy người tu cần có một bước rất khó mà rất cần, buông thiện tâm không còn thấy ta là người thiện, ta đang tu ta cao quý hơn ai thì tâm mới thật sự rỗng, mà chỉ trong trạng thái rỗng ấy chân tâm mới hiện như mặt trăng chỉ tỏ khi mây tan. Câu nói thiện tâm không buông vô niệm không hiện, vô niệm không hiện đạo còn xa nghìn dặm.
Ý nghĩa câu nói vô niệm không phải là không nghĩ gì mà là không trụ vào bất kỳ niệm nào. Khi niệm khởi thấy mà không giữ, thiện đến hành mà không chấp đó chính là vô niệm trong tỉnh thức. Chúng ta thường bị niệm thiện dắt đi như con trâu bị xỏ mũi, làm điều lành thì thấy vui nhưng vui ấy sinh từ sự so sánh, tôi tốt hơn người khác tôi đang tu giỏi. Cái vui đó không phải tịnh lạc của thiền mà là lạc của bản ngã, người tu sâu không từ bỏ thiện mà từ bỏ niệm về thiện, họ vẫn sống tử tế giúp đời nhưng làm rồi quên cho rồi thôi.
Trong họ không có ai là người làm không ai là người nhận, chỉ có sự vận hành của lòng từ vô trụ, của tâm vô niệm. Câu chuyện cái chuông không tiếng, ở một ngôi thiền viện xa xôi có một vị thầy già thường ngồi thiền cạnh cái chuông cũ. Chuông ấy đã lâu không ai gõ vì dây bị đứt thân chuông rạng nứt. Một hôm có chú tiểu hỏi, thưa thầy sao thầy ngồi thiền bên cái chuông hỏng nó không còn vang nữa? Vị thầy mỉm cười đáp, vì nó không còn tiếng nên mới không làm ai động tâm và cũng vì nó không còn tiếng nên ta mới nghe được âm thanh của chính lòng mình.
Chú tiểu ngơ ngác. Vị thầy nói thêm, tâm con cũng vậy nếu còn vang vọng ý niệm thiện thì lòng còn động, khi thiện tâm lặng xuống không cần tiếng chuông tâm sẽ vang. Sau nhiều năm chú tiểu lớn lên ngồi bên chuông cũ, chuông không kêu nhưng trong tâm chú vang lên một khoảng thinh lặng dịu dàng. Ý nghĩa câu chuyện, buông thiện tâm không phải là trở nên vô cảm mà là hành thiện trong vô niệm. Không còn trụ vào niệm thiện tâm mới như chuông không tiếng, tưởng như im lặng nhưng lại là nơi âm thanh chân thật vang lên không dứt. Đó mới là âm vang của đạo, tròn đầy mà không chấp hiển lộ mà không phô bày.
Phần mười hai, chân tâm không thiện không ác. Ở đời người ta thường định nghĩa một con người bằng những hành vi, làm thiện là người tốt làm ác là người xấu. Nhưng trong ánh sáng của thiền cách nhìn ấy chưa đi đến tận gốc rễ, vì cả thiện và ác đều là hai mặt của vọng niệm vẫn thuộc về thế giới đối đãi sinh diệt. Bồ Đề Đạt Ma khi được Lương Vũ Đế hỏi, trẫm xây chùa độ tăng in kinh công đức bao nhiêu? Ngài chỉ đáp vô công đức, một câu trả lời khiến cả triều đình lặng đi.
Bởi ngài đã nhìn xuyên qua hình tướng thiện hạnh để chỉ vào bản thể chân tâm, nơi không thiện không ác không cao không thấp không thêm không bớt. Chân tâm không bị nhuốm bởi việc thiện, cũng không bị hoen bởi điều ác. Nó như hư không, không chọn bên nào không nghiêng về đâu nhưng dung chứa hết thảy. Người tu nếu còn trụ vào thiện thì vẫn chưa thể thấy được tánh này, chỉ khi buông cả hai bờ thiện ác thì mới bước vào con đường vô tướng nơi đạo không còn tên gọi.
Câu nói chân tâm vốn không thiện không ác như gương chẳng giữ bóng hình nào. Ý nghĩa câu nói, trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy tâm thấy biết không phải pháp thiện cũng chẳng phải pháp ác. Điều ấy không phải phủ nhận luân lý mà là chỉ ra rằng tánh biết chân thật vượt lên trên mọi phân biệt. Chân tâm nếu bị vướng vào thiện thì đó là tâm sở, tức là một trạng thái tạm thời chưa phải bản thể. Nếu bị rơi vào ác thì càng xa đạo, nhưng nếu đứng ở giữa buông cả hai cực thì cái tâm vốn không động, không bị lôi kéo sẽ lộ rõ như mặt Trời rọi qua mây mù.
Gương chỉ là gương khi nó không giữ lại bóng nào, nếu gương dính bụi ảnh hiện lên mờ, nếu gương giữ lại hình thì không còn là gương. Cũng vậy, tâm còn trụ vào thiện thì không phải chân tâm, chỉ là lớp mặt nạ tạm bợ của bản ngã khéo hóa trang. Câu chuyện tấm gương của ông đồ già, ở một vùng quê yên ả có ông đồ già tên là Tòng vốn là người học rộng sống thanh bạch, ai cũng kính ông là người hiền gương mẫu sống đạo đức. Một hôm có người lạ đến làng làm nhiều việc trái ý dân nói năng bất kính với ông Tòng, cả làng căm phẫn muốn đuổi kẻ ấy đi.
Nhưng ông Tòng vẫn điền đạm tiếp đãi mời ăn cho ở nhờ, học trò hỏi thưa thầy sao thầy dung túng kẻ không thiện? Ông Tòng đáp, ta chỉ là tấm gương ai soi vào thì thấy chính mình, kẻ tốt đến gương soi lòng tốt kẻ xấu đến gương cũng phản ánh như thực, nhưng gương không chọn ta cũng không chọn. Người học trò nghe xong im lặng. Nhiều năm sau, người lạ kia trở thành người trầm lặng sống hiền và nói, chính sự không ghét bỏ của ông đồ ngày xưa đã khiến tôi thấy lại bóng mình trong gương.
Ý nghĩa câu chuyện, chân tâm không thiện không ác như tấm gương sáng không vướng bụi. Người tu phải học nhìn đời như gương, không chọn lọc không phán xét không giữ lấy hình bóng nào. Khi ấy việc thiện vẫn làm, điều ác vẫn thấy nhưng trong lòng không sinh không động. Đó là bước chân đầu tiên trên con đường vô tướng vô niệm, nơi chân tâm lặng lẽ tỏa sáng.
Phần mười ba, không thiện không ác chỉ một niệm mê liền thành sai biệt. Khi tâm người vừa khởi một niệm dù là thiện thì đã rời khỏi bản thể chân như, bởi chân tâm không ở trong thiện không trú vào ác mà là trước cả mọi phân biệt, trước cả cái thấy có đúng có sai, cái thấy chưa khởi ý chưa phân hai ấy là gốc của đạo. Lục Tổ Huệ Năng từng nói, không nghĩ thiện không nghĩ ác ngay khi ấy cái gì là bản lai diện mục của ngươi? Câu ấy chính là nối tiếp lời Đạt Ma Tổ nhấn mạnh, chỉ cần một niệm khởi là đã rời chân.
Người tu nếu giữ được tâm không dính vào thiện hay ác sẽ sống giữa đời mà không động. Như người đi trong mưa không bị ướt, như hoa sen giữa bùn không nhiễm mùi bùn. Nhưng chỉ cần một niệm ta đang thiện hay ta không nên làm điều ác khởi lên thì cái thấy đã lệch khỏi trung đạo. Chân tâm là nơi mà thiện và ác không còn tên, chỉ còn ánh sáng của tự tánh chiếu khắp không phân biệt. Câu nói chỉ một niệm khởi liền sinh Trời đất, không khởi niệm Phật với chúng sanh không hai.
Ý nghĩa câu nói, một niệm tưởng như nhỏ nhưng là mầm móng của toàn bộ vũ trụ phân biệt. Niệm ấy khi thiện sinh ra thiên đường khi ác mở cửa địa ngục, nhưng cả hai cảnh ấy đều không thật chỉ là ảnh hiện của tâm vọng. Người đời thường không thấy được cái vi tế của một niệm thiện, họ nghĩ rằng thiện là cứu cánh nhưng người tu thiền thì hiểu khi niệm chưa khởi ấy mới là gốc đạo. Cái thấy trước lời, cái biết trước ý đó là chân tâm không hình không bóng.
Đó là lý do vì sao chư tổ luôn nhấn mạnh kiến tánh thành Phật chứ không phải làm thiện thành Phật, vì Phật không sinh từ thiện mà từ tánh thấy không bị nhuốm bởi thiện hay ác. Câu chuyện người thợ gốm và bát rạng, ở một vùng quê xa có một người thợ gốm tên là Hạt, ông nổi tiếng vì làm ra những chiếc bát tròn đều men sáng không một tỳ vết. Một hôm có một sư già ghé qua mua một chiếc bát, vừa xem vị sư bỗng cố ý làm rơi bát xuống nền đất. Chiếc bát nứt một đường nhỏ, mọi người kinh ngạc còn Hạt thì bình thản.
Sư hỏi ông không giận sao? Hạt đáp, chén đã rơi rồi giận cũng vô ích, tôi làm để người dùng không để giữ cái toàn hảo. Sư gật đầu, lành thay vết nức ấy là đạo. Người đời cứ muốn giữ cái thiện tròn đầy nhưng đạo thì ẩn trong chỗ bất toàn, không thiện không ác. Chỉ cần không khởi niệm chấp vào cái lành thì rạng nức hay toàn hảo đều là một. Vài năm sau, bát rạng ấy trở thành vật báu trong chùa vì người ta nói nơi có vết nức ánh sáng chiếu qua.
Ý nghĩa câu chuyện, chân tâm vốn không thiện không ác chỉ cần một niệm khởi lên thì đã sai biệt. Người tu không dừng ở hành vi mà soi vào từng khởi niệm, chỉ khi niệm chưa sinh mới thấy được đạo không lời, và chỉ khi ấy ta mới thực sự sống bằng tâm Phật trong sáng không phân biệt không trụ vào điều gì.
Phần mười bốn, phá chấp thiện mới thấy pháp vô tướng. Thiện là một chiếc thuyền quý giúp người vượt qua sông mê, nhưng nếu đến bờ rồi vẫn ôm giữ thuyền thì chẳng thể bước lên bờ. Trong đạo Phật nhất là với thiền tông, thiện không phải là đích đến mà chỉ là phương tiện. Điều quan trọng là người tu không được chấp vào chiếc thuyền. Chấp thiện là gì? Là thấy mình làm lành rồi sinh ra ý niệm ta là người tu tốt, ta hơn người khác ta sẽ được phước. Những niệm ấy tưởng nhẹ nhưng chính là rễ sâu của ngã chấp, và ngã chính là cái màn sương dày nhất che khuất chân tâm.
Muốn thấy được pháp vô tướng, nơi mọi hình thức đều tan mọi thiện ác đều là sóng nổi trên mặt nước thì người tu phải học phá chấp thiện. Không có nghĩa là bỏ thiện mà là buông niệm chấp vào việc lành mình làm, để mỗi hành động trở nên như mây bay như gió thổi không dấu vết. Câu nói, thấy được pháp vô tướng khi tâm không còn chỗ bám kể cả vào điều thiện. Ý nghĩa câu nói pháp vô tướng là gì? Là những chân lý không nằm trong hình thức, không nằm trong ngôn từ hay quy ước. Đó là cái nhìn thẳng vào bản thể, vào sự thật trần trụi của vạn pháp, nơi thiện và ác đều chỉ là bóng của vọng niệm.
Nếu người tu còn trụ vào thiện thì tâm họ vẫn còn tướng, mà hễ còn tướng thì chưa thể vào được cảnh giới vô tướng nơi mọi phân biệt đều buông rơi. Phá chấp thiện không phải là từ bỏ điều tốt mà là làm mà không chấp hành mà không vướng. Người như thế làm lành mà không thấy ai được lợi, không thấy mình là người làm như mặt Trời chiếu sáng không biết mình đang chiếu. Chỉ khi tâm người không còn chỗ trụ thì pháp vô tướng mới hiển lộ như hư không không bị bụi bám trong suốt và thênh thang.
Câu chuyện người mù lợp mái chùa, trong một vùng núi cao có một ngôi chùa nhỏ lợp mái bằng lá cọ. Mỗi năm khi mưa đến mái chùa lại dột, một hôm có một người mù xin ở nhờ và nguyện cho tôi góp chút sức. Sư trụ trì thương tình để ông phụ giúp nhóm bếp nhặt lá khô, một hôm trong khi ai cũng bận bịu người mù lặng lẽ leo lên mái lần từng khúc vá từng lỗ thủng bằng những mảnh lá mới. Một chú tiểu thấy vậy hốt hoảng, chú ơi chú mù lỡ ngã thì sao? Người mù cười, tôi không thấy nên không sợ độ cao, tôi chỉ nghe tiếng dột biết chỗ mà vá, tôi vá không phải để được thấy mà để người khác khỏi ướt.
Khi mái chùa hết dột người mù lặng lẽ rời đi, không ai kịp hỏi tên cũng chẳng biết ông từ đâu tới. Sư trụ trì chỉ mỉm cười, ông ấy làm thiện mà không chấp thiện là người thấy pháp vô tướng giữa đời thường. Ý nghĩa câu chuyện, phá chấp thiện không phải từ bỏ thiện hạnh mà là hành thiện trong sáng suốt không lưu vết. Khi tâm không bám vào điều gì kể cả điều thiện thì người ấy sống trong pháp vô tướng. Và pháp vô tướng là cánh cửa mở vào chân tâm, nơi không còn người cho người nhận chỉ còn sự tỉnh thức hiện tiền.
Phần mười lăm, khi không còn ai làm thiện đạo mới bắt đầu. Ta thường nghĩ đạo bắt đầu từ khi làm lành sống thiện, nhưng trong ánh nhìn của thiền tông đó mới chỉ là cánh cửa ngoài. Cửa đạo thực sự chỉ mở khi người làm lành ấy cũng không còn. Nghĩa là khi tâm không còn vướng vào ý niệm ta đang làm thiện thì con đường vô ngã mới khởi. Bồ Đề Đạt Ma khi truyền tâm pháp sang đông độ không để lại giáo lý nhiều chữ, không dựng pháp môn nhiều tầng, ngài chỉ truyền trực chỉ nhân tâm thấy thẳng vào bản lai diện mục, nơi không có người tu không có việc tu không có đạo để đạt.
Nghe qua tưởng mơ hồ nhưng chính là đỉnh cao của tỉnh thức. Làm mà không ai làm, hành mà chẳng dính vào hành vi. Khi người làm thiện biến mất, chỉ còn việc thiện tự nhiên trôi chảy như nước từ núi cao đổ xuống đồng bằng, không ai đẩy không ai tính toán. Lúc đó thiện là sự sống, không còn là lựa chọn đạo đức và đạo cũng bắt đầu từ nơi ấy. Câu nói không có người tu không có pháp để tu, khi ấy đạo hiển lộ như ánh trăng chiếu giữa hồ.
Ý nghĩa câu nói, thiện hạnh khởi từ tâm nhưng tâm còn mang bóng của ngã thì thiện ấy vẫn bị giới hạn. Khi ta nghĩ ta đang tu ta đang tốt ta phải sống đúng, tất cả đều là dấu vết của bản ngã vi tế. Người học đạo phải vượt qua lớp ngã ấy, không phải bằng cách chối bỏ thiện mà là hành thiện đến mức không còn người hành, đó chính là tinh thần của vô ngã. Khi không còn người làm thì việc làm mới thuần khiết, khi không còn người tu thì đạo mới hiển lộ. Đó là sự hiện diện vô nhân xưng nhưng thấm đẫm trí tuệ và từ bi.
Thiện ấy không đến từ khuôn phép hay sợ hãi mà từ chỗ thấy rõ bản tánh, nên sống đúng tự nhiên không cần cố gắng. Chỉ khi ta không còn thì đạo mới có thể bắt đầu, đạo không phải đích đến đạo là thực tại hiện tiền nhưng bị cái ta đang tu che lấp. Câu chuyện người quét sân không tên, tại một tu viện cổ trên đỉnh núi có một người hằng ngày quét sân, không ai biết ông từ đâu đến. Ông không vào đại điện, không ngồi thiền tụng kinh chỉ lặng lẽ dậy sớm quét lá nhóm lửa nấu trà.
Một ngày có thiền sinh hỏi sư trụ trì, ông ấy là cư sĩ hay đệ tử đời trước của thiền viện? Sư trụ trì đáp, ông ấy không là gì cả cũng không nhận là ai. Ông chỉ sống mà sống như thế lại là người gần với đạo nhất. Thiền sinh đến hỏi người quét sân, sao ông không vào thiền đường không tu học cùng mọi người? Người ấy đáp, tôi không tu tôi chỉ quét sân. Nhưng khi quét tôi không nghĩ mình đang quét, lá rơi thì tôi gom lại, khi sân sạch tôi ngồi uống trà. Thiền sinh cúi đầu lặng lẽ rời đi.
Ý nghĩa câu chuyện, khi ta đang làm thiện không còn thì thiện mới thật sự thuần khiết, khi ta đang tu biến mất thì đạo mới thật sự hiện bày. Người học đạo không cần gắn gượng thành ai cả, chỉ cần sống trọn vẹn không phân biệt không lưu giấu. Lúc đó đạo không đến không đi mà tự tỏa như ánh trăng giữa lòng hồ lặng gió.
Phần mười sáu, khi thiện ác vắng mặt tánh biết hiện bày. Người tu theo lối thường hay hỏi, sao để biết đâu là đúng đâu là sai, làm sao để chọn điều thiện tránh điều ác? Nhưng trong thiền vị thầy sẽ đáp một cách lặng lẽ, khi không còn phân biệt thì tánh biết sẽ tự hiện. Tánh biết không phải là trí nhớ, cũng không phải tri thức mà là một sự biết trọn vẹn không điều kiện. Biết mà không khởi tâm phân biệt tánh biết ấy luôn hiện hữu, chỉ bị che lấp bởi những ý niệm thiện ác phải trái được mất.
Đạt Ma Tổ từng ngồi chín năm quay mặt vào vách không truyền một lời giáo lý nào, không phải vì ngài không có gì để dạy mà vì ngài đang chỉ thẳng. Tánh biết không nằm trong chữ nghĩa, nó chỉ hiện ra khi tâm không còn dính vào bất kỳ một ý niệm nào kể cả thiện. Khi thiện và ác cùng vắng mặt, cái còn lại không phải là khoảng trống vô hồn mà là ánh sáng của tánh biết. Một sự trong sáng tỉnh táo lặng lẽ mà rất sống động. Câu nói tâm lặng thiện ác không sinh, khi ấy tánh biết hiện như gương soi mà chẳng dính bụi.
Ý nghĩa câu nói, thiện ác là hai dòng nước chảy song song trong tâm vọng. Khi còn phân biệt tâm còn dao động, mà tâm dao động thì tánh biết vốn không sinh không diệt bị khuất mờ. Đó là lý do vì sao trong thiện không dạy người chạy theo thiện mà dạy buông cả hai bờ để lặng nhìn giữa dòng. Tánh biết không chọn bên nào, nó không nói đây là thiện kia là ác, nó chỉ thấy và cái thấy ấy không sinh phân biệt như gương soi người đẹp kẻ xấu. Hình hiện mà gương không phản ứng, tánh biết cũng thế là bản thể thanh tịnh rỗng rang không sinh khởi dính mắc.
Muốn thấy tánh biết không cần học thêm chỉ cần bớt đi, bớt phân biệt bớt mong cầu bớt cái ta đang làm điều tốt. Khi tâm như mặt hồ không gợn thì ánh trăng của tánh biết tự nhiên hiện bày. Câu chuyện đêm trăng bên giếng cạn, một đêm trăng thầy trò thiền viện ra giếng múc nước. Mặt trăng soi bóng dưới lòng giếng sâu, một chú tiểu nhìn xuống hỏi thưa thầy đó có phải là mặt trăng thật không? Thiền sư cười đáp là bóng thôi, trăng thật không nằm trong nước cũng như đạo không nằm trong thiện hay ác.
Chú tiểu bối rối, vậy làm sao thấy được đạo? Thầy bảo hãy đợi nước lặng. Một lúc sau nước giếng lắng trong veo, bóng trăng hiện rõ hơn mà không chao đảo. Thầy nói khi tâm con không còn gợn sóng thiện ác được mất thì tánh biết cũng sẽ hiển lộ như trăng trong nước lặng, không cần tìm không cần giữ chỉ cần buông những gợn lăng tăng là đủ. Chú tiểu ngồi bên giếng suốt đêm ấy không nói gì chỉ nhìn trăng.
Ý nghĩa câu chuyện, tánh biết không đến từ học hỏi hay cố gắng, nó vốn sẵn có như mặt trăng luôn có mặt chỉ bị mây che. Khi thiện và ác đều vắng mặt trong tâm, khi ý niệm về đúng sai không còn làm động lòng thì sự sáng biết không phân biệt sẽ tự nhiên hiện ra. Người tu không cần làm thêm gì cả, chỉ cần nhẹ nhàng buông xuống và lặng yên nhìn lại chính mình.
Phần mười bảy, thiện còn khởi ngã còn đó. Thiện đối với người đời là phẩm hạnh nhưng trong con đường thiền quán sâu thẳm, thiện chưa hẳn đã là cứu cánh. Bởi vì cái thiện khởi từ tâm còn phân biệt thì chưa thoát khỏi ngã. Còn ta đang làm thiện thì ta ấy vẫn là cội nguồn của sinh tử luân hồi, khi ngã hiện diện dù dưới hình thức tốt đẹp nó vẫn là bóng tối phủ kính tánh sáng. Cái ta thiện thường rất khéo ẩn mình, nó thích được ngợi khen thích được công nhận thích thấy mình cao hơn kẻ khác.
Và như thế, mỗi hành động thiện thay vì là bước giải thoát lại là một lần xiết thêm sợi dây vô hình của bản ngã. Bồ Đề Đạt Ma không để tâm đến thiện ác, bởi ngài đã thấy rõ khi ngã chưa diệt thì mọi phân biệt đều là vọng tưởng, còn cái thấy phân hai thì chưa trở về được với chân như. Câu nói còn thấy ta đang thiện tức là ngã còn, còn ngã thì đạo chỉ là vọng tưởng. Ý nghĩa câu nói, người hành thiện nhưng luôn thấy mình là người làm, đang gieo phước đang sống cao quý chính là người đang nuôi dưỡng bản ngã.
Dù bên ngoài có vẻ hiền lành rộng lượng, nhưng nếu bên trong còn một niệm ta đang tốt thì vẫn còn tâm so đo hơn thua. Trong thiền không ai chống lại việc thiện, nhưng thiện phải là thiện không bóng người làm không vết của cái tôi. Thiện như mặt Trời chiếu khắp, không tự nhận là đang chiếu cũng không chọn nơi để chiếu. Lúc ấy thiện không sinh từ ngã mà sinh từ tánh giác. Chừng nào còn khởi tâm làm thiện để được gì đó, để trở thành ai đó thì chừng ấy người tu vẫn còn lạc giữa mê lộ.
Và trong mê ấy, mọi thiện hạnh cũng chỉ là vòng lặp vi tế của bản ngã biến tướng. Câu chuyện bức tường treo bản thiện, có một ngôi làng nơi mỗi năm đều tổ chức cuộc bình chọn người sống thiện nhất. Ai làm được việc tốt sẽ được ghi tên lên bảng treo giữa đình làng. Một người tên Lạc rất chăm làm việc thiện, ông giúp người già dắt trẻ qua đường ủng hộ lễ hội dọn vệ sinh làng. Nhưng trong lòng ông luôn nghĩ mình nhất định sẽ được ghi tên đầu bảng.
Khi ngày bình chọn tới tên ông lại không được sướng lên vì có người âm thầm giúp người khác mà không ai hay, không ghi công không khoe mình. Ông Lạc tức giận đến hỏi trưởng làng, tôi làm bao nhiêu việc lành sao không được công nhận? Trưởng làng nhìn ông từ tốn đáp, chính vì ông thấy mình làm nhiều nên ông không còn là người thiện thật nữa, người được ghi tên là người đã không thấy mình là ai. Từ đó ông Lạc không tham gia bình chọn nữa nhưng vẫn tiếp tục giúp người, chỉ là không còn mong gì không còn tự nhủ mình đang làm điều tốt.
Ý nghĩa câu chuyện, khi cái thiện còn khởi cùng với cái ta thì con đường giải thoát vẫn còn bị che khuất, thiện ấy dù đẹp vẫn là hoa có gốc rễ trong đất của ngã. Người tu cần bước qua cái thiện mang hình bóng bản ngã để sống với cái thiện như hơi thở không tên không dấu, lúc đó đạo không còn là mục tiêu mà là bản tánh đang hiện diện từng giây.
Phần mười tám, tâm thiện mà không sáng dễ rơi vào bản ngã vi tế. Có một loại bản ngã không ồn ào không thô lậu nhưng lại bám sâu rất khó thấy, bản ngã vi tế của người tu đó là cảm giác mình đang tu tốt mình đang sống thiện mình khác với phàm phu. Cảm giác ấy như sợi chỉ mỏng, tưởng chừng không đáng kể nhưng chính là tấm màn mỏng che kính ánh sáng chân tâm. Trong nhà thiền người ta rất sợ một tâm thiện thiếu tỉnh giác, bởi nó dễ sinh ra tự hào dính mắc so đo, tất cả đều là gốc rễ của ngã mạn.
Một người làm lành nhưng không sáng, giống như người đi trong rừng mà không cầm đuốc dễ lạc lối dù đường có vẻ ngay thẳng. Đạt Ma Tổ từng nói, nếu tâm còn thấy mình là người tu thì đạo còn cách xa vạn dặm. Câu ấy là lời cảnh tỉnh cho những ai tưởng mình đã gần đạo nhưng kỳ thực vẫn đang đứng ngoài cửa bởi chưa phá được cái thiện còn chấp. Câu nói thiện mà không quán chiếu dễ hóa thành cái tôi ẩn dưới lớp áo đạo đức.
Ý nghĩa câu nói, tâm thiện nếu không được chiếu sáng bằng trí tuệ rất dễ trở thành nền cho sự dính mắc vi tế. Người ấy không còn là kẻ phạm lỗi rõ ràng mà là người trói mình bằng niềm tin về sự tốt đẹp của bản thân. Điều này rất nguy hiểm vì càng tu lâu bản ngã ấy càng được nuôi lớn bằng công phu tu tập, bằng lời khen của người khác bằng vị trí trong chúng. Nhưng thiền dạy phải thấy cho rõ quán cho thấu từng niệm thiện cũng phải soi, không phải để diệt thiện mà để diệt cái ngã ẩn sau thiện.
Thiện ấy khi được làm mà không còn ai nhận, không còn ai cho mới là thiện của trí tuệ của từ bi không điều kiện. Một người tỉnh thức luôn nghi ngờ chính mình, không phải vì tự ti mà vì hiểu rõ bản ngã khéo lắm, nó đội lốt được cả hiền lành. Chỉ khi có ánh sáng quán chiếu thì mới thấy được sự vi tế đó và từng bước buông xả, câu chuyện người giữ khóa cửa chùa. Ở một tu viện miền Bắc có một vị cư sĩ lâu năm tên là Lễ, ông là người chăm chỉ gương mẫu chưa từng phạm giới.
Mỗi ngày đều dậy sớm mở cổng chùa quét sân sắp xếp thiền đường, ai cũng kính trọng. Một hôm có một thiền sinh mới vào chùa được giao việc giữ khóa cửa thay cho ông Lễ, ông không nói gì nhưng vài ngày sau ông thấy lòng nặng buồn tức và thấy bất công. Thầy trụ trì gọi ông lên hỏi, con có biết vì sao ta đổi người giữ khóa không? Ông đáp dạ con không biết, con giữ bao nhiêu năm rồi chưa từng lỡ việc. Sư thầy mỉm cười, chính vì con đã giữ quá lâu nên sinh ra chấp, cái khóa ngoài cửa không bằng cái khóa trong tâm.
Cái chấp của người tu nếu không thấy sẽ trở thành cửa ngăn chân tâm hiển lộ. Từ hôm đó ông Lễ vẫn ở lại chùa nhưng mỗi việc làm đều nhẹ hơn, ông làm như lần đầu và cũng như lần cuối không mong ai biết không mong ai nhắc đến. Ý nghĩa câu chuyện, tâm thiện nếu không được chiếu sáng bằng sự tỉnh thức sẽ trở thành lớp áo đẹp cho cái ngã vi tế ẩn mình. Người tu phải luôn nhìn lại chính mình từng việc làm, từng niệm thiện để thấy rõ có dính mắc nào đang len lõi hay không. Khi làm mà tâm rỗng rang, khi thiện mà không thấy mình thiện thì đó mới là cánh cửa mở vào đạo.
Phần mười chín, không chấp thiện mới sanh từ bi. Người tu thường lấy từ bi làm cội gốc của hành xử, nhưng từ bi chân thật không sinh từ thiện chấp, không sinh từ thương hại hay phân biệt mà phát khởi từ tâm vô ngã từ lòng rỗng rang không dính mắc. Thiện mà còn trụ vào ta là người làm thì từ bi đó dễ biến thành từ bi có điều kiện, thương người hiền ghét kẻ dữ giúp người biết ơn xa lánh kẻ vô ơn, từ bi ấy là tình cảm không phải trí huệ.
Đạt Ma Tổ và các thiền sư chân truyền không dạy thương bằng cảm xúc mà dạy thương bằng sự thấu hiểu bản tánh vô ngã nơi mọi loài. Khi không còn chấp vào thiện người tu không cần cố thương ai cả, lòng tự nhiên mở ánh mắt tự nhiên ấm, từ bi đó không do tu dưỡng mà do chân tâm không ngăn cách hiển lộ. Câu nói buông chấp thiện từ bi tự sinh như hoa thơm chẳng cần hương, vẫn làm mát lòng người. Ý nghĩa câu nói, khi còn nghĩ rằng tôi đang tu để trở nên từ bi thì từ bi ấy là thứ cần đạt, chưa phải là bản thể tự nhiên.
Tâm ấy còn nắm giữ thiện, còn mong cầu quả báo tốt nên từ bi phát sinh từ đó chỉ là phản ứng có điều kiện. Còn khi buông hẳn tâm thiện không nghĩa là từ bỏ thiện hạnh mà là không còn thấy ta đang làm thiện thì lòng như mặt Trời chiếu sáng. Chiếu mà không chọn ai không đòi được gì không mong trả ơn, từ bi ấy chính là dáng vẻ tự nhiên của người đã thấy rõ chân tánh, nơi không có người cho người nhận.
Trong ánh sáng ấy, người tu không cần phải ép mình hiền lành, không cần gắn gượng bao dung. Lòng họ trầm xuống, lặng lại nhưng tỏa ra hơi ấm dịu dàng vì họ không còn thấy mình khác người, không còn thấy ai đáng trách ai đáng thương, đó là lúc từ bi sinh ra một cách vô ngã. Câu chuyện người thầy và kẻ trộm, tại một ngôi chùa hẻo lánh có một vị thầy già tên là Tuệ Minh. Một đêm chùa bị trộm, người trong chùa bắt được định trình lên quan, nhưng thầy Tuệ Minh ngăn lại nói nó là khách.
Mọi người sửng sốt, ông giải thích nếu nó cần ăn ta cho cơm nếu cần áo ta cho áo nếu nó vào đây vì thiếu hiểu biết ta tiếp đãi bằng sự lặng im. Người trộm được thả, năm sau hắn quay lại xin xuất gia. Khi được hỏi lý do, hắn chỉ đáp vì lần đầu tiên trong đời tôi được nhìn bằng ánh mắt không phán xét. Sau này kẻ trộm ấy trở thành một vị tăng thanh tịnh được kính mến, ai hỏi về sự chuyển hóa ấy ông chỉ cười. Vì tôi gặp được một người không chấp thiện nên tôi mới thấy mình cũng không phải kẻ ác.
Ý nghĩa câu chuyện, từ bi chân thật không sinh từ chấp thiện mà sinh từ tâm rỗng rang không phân biệt. Khi người tu không còn nghĩ mình là người lành người tu thì cái nhìn họ dành cho cuộc đời mới không còn vướng mắc, và trong cái nhìn đó một người cũng là tất cả tất cả cũng là một, từ bi tự hiện như hương hoa lan khắp mà không mong được nhớ đến.
Phần hai mươi, không thiện không ác tâm như Trời rộng. Trời không nói thiện không nói ác, Trời chỉ dung chứa nắng mưa bảo trong tất cả đều không làm Trời đổi sắc. Tâm người tu cũng cần rộng như Trời không chấp thiện không ghét ác, chỉ lặng lẽ nhận biết không dính không trụ. Khi tâm còn vướng vào thiện người tu dễ trở nên khắc khe khinh chê kẻ chưa lành, mong cầu kết quả tốt lành cho riêng mình. Khi tâm còn sợ ác thì dễ sinh lo lắng, tìm cách né tránh kiểm soát cuộc đời, cả hai đều là biểu hiện của tâm chưa rộng.
Bồ Đề Đạt Ma dạy đạo là không trụ vào đâu, không trụ vào thiện cũng không kẹt vào ác chính là bản tâm tự tại. Tâm ấy như bầu Trời, dẫu mây có kéo đến gió có qua vẫn là bầu Trời nguyên vẹn. Và người tu chỉ khi sống được với tâm đó mới thực sự chạm vào cốt tủy của đạo. Câu nói không thiện không ác tâm như hư không, dung chứa muôn loài mà chẳng dính gì. Ý nghĩa câu nói, thiện và ác chỉ là hai nhánh cây mọc từ một gốc, gốc của phân biệt khi còn thấy có hai tức là còn gốc.
Khi thấy được gốc ấy thì thiện và ác đều rơi tâm như Trời, không có biên giới không có khái niệm. Người tu cần vượt khỏi tâm đo lường việc này có lành không, làm vậy được phước không để sống với một tâm nhìn suốt hiểu sâu, không bị mê hoặc bởi nhãn hiệu thiện ác gắn lên mọi việc. Một tâm như vậy không vô cảm, trái lại là tỉnh thức hoàn toàn biết rõ tất cả nhưng không bị trói buộc bởi bất cứ điều gì.
Trong tâm đó mọi việc được làm theo duyên, theo trí tuệ chứ không theo khuôn mẫu hay sợ hãi, cũng như bầu Trời không có ý định chiếu sáng mà ánh sáng tự hiện. Câu chuyện người giữ ngựa và ông lão mù, ở vùng biên giới có người chăn ngựa tên là Lục. Một hôm ông cứu một ông lão mù bị lạc trong rừng. Ông mang về nhà cho ở cùng chăm sóc như cha ruột. Người làng khen, anh Lục thật thiện tâm. Ông chỉ cười, tôi chỉ làm việc cần làm.
Sau này có kẻ tung tin ông lão là gián điệp, dâng làng hoang mang, có người trách Lục, anh đưa kẻ ác về làng. Lục vẫn nói, ông ta đói tôi cho ăn mù tôi dẫn đường, tốt hay xấu tôi không biết nhưng tôi thấy lòng mình không nghi ngờ. Cuối cùng mọi chuyện sáng tỏ, ông lão thật sự là người tốt từng giúp nhiều người, dân làng kéo đến xin lỗi. Lục chỉ nói, Trời không chê mưa không chọn gió tôi cũng không chọn, lòng tôi như Trời không chứa gì nên không sợ gì.
Ý nghĩa câu chuyện, không trụ vào thiện không ghét bỏ ác là bước đầu sống với tâm như Trời. Khi tâm không còn bị ràng buộc bởi những dáng nhãn đúng sai thiện ác được mất thì sự trong sáng tự hiển lộ như mặt Trời rạng sau mây. Người tu không cần gì hơn ngoài một tâm rộng lớn như Trời bao dung, như hư không tỉnh lặng mà thấu suốt muôn đời.
Phần hai mươi mốt, tâm không phân biệt việc gì cũng đúng. Con người thường phân biệt việc này đúng việc kia sai, lời kia hiền ý nọ ác. Nhưng trong mắt của một hành giả tu thiền, phân biệt ấy chỉ là những lằn ranh do tâm vẽ ra, và khi tâm còn vẽ thì chưa thể thấy sự thật. Thiền không dạy ta chọn đúng hay sai theo kiểu thông thường mà dạy ta dừng lại chính nơi đang khởi niệm phân biệt. Khi tâm lặng xuống không dính vào phán đoán, không bị kéo bởi thiên kiến thì việc làm tự nhiên đúng lời nói tự nhiên sáng.
Không phải vì nó khớp với chuẩn mực bên ngoài mà vì nó khởi từ một nơi vô trụ vô niệm, một nơi không có ta để phân chia. Bồ Đề Đạt Ma từng nói, pháp vốn không pháp lấy gì truyền pháp? Nghĩa là đạo không nằm trong khuôn mẫu thiện ác đúng sai. Khi tâm không còn đứng về phe nào thì mỗi hành vi đều là chánh pháp vì chẳng còn gì để đối lập chẳng còn gì để bảo vệ. Câu nói không phân biệt đúng sai, chỉ sống bằng tâm không rơi vào hai bờ thì việc gì cũng đúng.
Ý nghĩa câu nói, người tu ban đầu cần giữ giới cần sống thiện, nhưng nếu mãi dừng ở đó thì chưa thể bước vào con đường vô phân biệt. Bởi thiện ác đúng sai chỉ là những định danh tạm thời, tùy theo hoàn cảnh vị trí tâm thức. Điều hôm nay gọi là đúng mai có thể thành sai, điều ta cho là thiện trong mắt người khác lại là tội lỗi. Thiền dạy đừng đứng bên này hay bên kia, hãy đứng ở giữa vị trí của tánh biết không dính mắc.
Khi ấy ta không còn phân tích bằng cái trí chấp ngã mà lắng nghe bằng một sự hiện diện trọn vẹn, mỗi hành vi từ đó phát ra sẽ tự nhiên đúng. Không phải đúng theo lý mà là hợp với đạo, hợp với dòng chảy tự nhiên của pháp. Tâm phân biệt giống như mặt hồ bị gió việc gì cũng chao đảo, tâm vô phân biệt như nước lặng trong veo phản chiếu tất cả mà không giữ gì. Trong sự lặng ấy, mọi hành động đều nhẹ mà đúng.
Câu chuyện hai bàn tay và chiếc bình dở, một thiền sinh tên là Tịnh về quê thăm cha mẹ, khi vào bếp rửa chén anh làm vỡ một chiếc bình quý là kỹ vật của mẹ. Người mẹ bước vào thấy mảnh vỡ im lặng, Tịnh cúi đầu nói con làm sai xin mẹ thứ lỗi. Mẹ anh mỉm cười nhẹ nhàng nhặt từng mảnh, con có sai đâu chỉ là cái bình đã vỡ. Anh ngơ ngác, mẹ bảo bàn tay rửa bình không sai, cái bình vỡ cũng không sai, nếu con trách mình thì chỉ thêm một mảnh vỡ nữa trong tâm.
Nếu con lặng lẽ thấy thì cả con và cái bình đều là một phần của sự sống đang trôi, Tịnh lặng người thấy lòng như có gió mát thổi qua, từ đó anh không còn sợ sai nữa mà chỉ sống từng việc từng hơi thở bằng tâm không phán xét. Ý nghĩa câu chuyện, khi tâm không còn phân biệt thì mọi việc trở nên đúng, không vì nó hợp với chuẩn mà vì nó khởi từ nơi không chấp. Người tu học theo thiền không cần trở thành người hoàn hảo, chỉ cần sống bằng tâm không đứng về phía nào không chống không giữ. Trong sự trống không ấy từng hành vi trở thành đạo, không vì đúng không vì thiện mà vì không còn ai để sai.
Phần hai mươi hai, buông hết thiện ác chỉ giữ một tâm tỉnh thức. Giữa biển đời dâu bể, người cầu đạo thường ôm lấy cái phao gọi là thiện để mong nổi giữa dòng, nhưng càng ôm chặt càng thấy nặng. Cái phao ấy chỉ giúp vượt đoạn đầu, nhưng không thể mang vào bờ giác. Muốn vào sâu người tu phải học buông cả thiện lẫn ác, chỉ giữ một tâm tỉnh thức sáng ngời không dính mắc. Đạt Ma Tổ không bảo người bỏ thiện cũng không khuyến khích theo ác, ngài chỉ thẳng hãy buông cả hai.
Khi tâm không còn đong đếm thiện ác, khi hành vi không còn mang bóng tốt hay xấu thì người tu mới thực sự sống với bản tâm vô niệm không động. Cái giữ cần thiết nhất không phải là điều gì trong đối đãi mà là sự tỉnh thức bất động. Ánh sáng của tánh biết không phân biệt, khi ấy người tu không còn lo mình sống sai, không còn mong mình sống đúng chỉ còn sống trọn vẹn nhẹ nhàng như mây qua đỉnh núi.
Câu nói buông thiện buông ác chỉ giữ tỉnh thức, vì chỉ có tỉnh thức mới đưa ta về nhà. Ý nghĩa câu nói, tỉnh thức là cốt lõi của đạo. Khi tỉnh thức tâm không bị dắt đi bởi thiện ác, không bị mê mờ bởi được mất đúng sai. Người sống tỉnh thức không cần chọn điều gì cả vì mọi lựa đều đến từ phân biệt, họ chỉ cần thấy rõ ràng không vướng mắc. Thiện nếu không có tỉnh thức sẽ thành kiêu mạn, ác nếu không có tỉnh thức sẽ thành hối hận.
Nhưng trong tỉnh thức cả hai chỉ là những bóng hình thoáng qua, không cần giữ cũng chẳng cần đẩy, chúng đến người thấy chúng đi người lặng, chính trong thấy ấy đạo lặng lẽ nở hoa. Buông thiện ác không phải là trở nên trống rỗng mà là mở ra một khoảng không thênh thang cho trí huệ vận hành. Người giữ được tỉnh thức như giữ ngọn đèn trong đêm, ánh sáng ấy không xua đuổi bóng tối chỉ làm nó tự tan.
Câu chuyện ngọn đèn và bóng tối, một người lữ khách đi lạc vào rừng đêm trong tay chỉ có một ngọn đèn dầu loe lét. Anh gặp một ngã ba, bên trái ghi đường thiện bên phải ghi lối ác. Người bạn đồng hành hỏi, chúng ta nên chọn bên nào? Lữ khách mỉm cười, tôi không chọn bên nào, tôi chỉ cần giữ ngọn đèn này sáng. Anh không rẽ vào đâu cả chỉ ngồi xuống lặng lẽ, ánh đèn trong tay vẫn cháy. Một lúc sau bóng tối tan dần và con đường mòn hiện ra, không bảng chỉ không tên gọi nhưng dẫn thẳng đến làng. Người bạn ngạc nhiên, sao anh không sợ? Lữ Khách đáp, khi đèn sáng tôi đi đâu cũng thấy đường. Khi tỉnh thức không cần phân biệt lối này là thiện hay ác, chỉ cần một bước chân đúng với lòng mình.
Ý nghĩa câu chuyện, giữ tỉnh thức là giữ được ánh đèn giữa đêm. Buông thiện buông ác không phải là lạc lối mà là buông mọi nhãn mác để thấy đường chân thực ngay trong từng phút giây. Người tu không cần cố gắng đúng, chỉ cần sống trọn vẹn sáng suốt không vướng. Tỉnh thức ấy chính là quê nhà nơi mọi pháp đều tan, mọi niệm đều dừng và chân tâm hiển bày như ánh sáng mặt Trời.
Phần hai mươi ba, không mang thiện ác theo mình mới thật sự thong dong. Nhiều người tu trên vai lúc nào cũng mang gánh nặng vô hình, một bên là điều thiện mình đã làm một bên là điều ác mình đã tránh. Nhưng càng mang càng nặng vì mỗi việc thiện nếu còn nhớ là một dấu vết chưa tan, mỗi điều ác nếu còn sợ là một bóng ma chưa rời. Thiền dạy hãy đi như người không mang gì cả, làm việc lành xong như vết chân trên cát bị gió xóa, gặp việc ác thấy mà không dính không lẫn tránh như người đi trong mưa nhẹ không sợ ướt.
Bồ Đề Đạt Ma không dạy chạy theo công đức cũng không khuyên lánh xa lỗi lầm một cách cứng nhắc, ngài dạy hãy đi qua thiện ác như đi qua chợ không mua gì không giữ gì không mang gì theo về. Khi ấy lòng mới nhẹ như mây, bước mới thong dong như gió. Câu nói đã bước khỏi thiện ác thì đừng ngoái lại, mang theo chi cho nặng da về. Ý nghĩa câu nói, người tu thường cố gom góp điều thiện như tích trữ phước lành, nhưng không hay rằng chính việc ghi nhớ và so đo ấy lại là nguồn sinh phiền não.
Cũng vậy, người lỡ phạm lỗi lại thường mang mặc cảm tự trách không dám nhìn lên, cả hai thái cực một dính vào quá khứ tốt một kẹt trong cái xấu, đều là chướng ngại trên đường trở về chân tâm. Thiền không bảo người quên tất cả một cách vô tri mà dạy người nhìn thấy tất cả rồi buông, việc thiện làm xong không ghi công không kể lại, việc sai từng phạm sám hối rồi thôi không đeo đuổi hoài niệm. Chỉ khi lòng như tay không thì bước chân mới thật sự thong dong, chỉ khi không mang theo gì thì người mới tự do.
Không cần mang thiện ác theo mình bởi tánh biết vốn rỗng rang chưa từng bị dơ hay sạch. Người tu một khi sống với cái biết ấy sẽ thấy đời nhẹ đi nửa phần, lòng thảnh thơi như kẻ ngao du không địa chỉ. Câu chuyện gã ăn xin và chiếc túi cũ, ngày xưa có một gã ăn xin tên Hòa luôn mang một chiếc túi vải rách bên người. Dù bên trong không có gì quý giá, anh vẫn ôm nó suốt năm này qua năm khác, mỗi lần ai góp ý anh đều nói đây là kỷ niệm không thể bỏ. Một ngày nọ có một thiền sư đi ngang thấy gã co ro trong gió rét ôm túi như ôm kho báu.
Sư hỏi, trong đó có gì? Gã đáp chỉ là vài mảnh áo cũ một viên đá nhỏ nhưng tôi không thể rời. Sư hiền từ nói con đường giải thoát là dành cho người buông bỏ, không phải vì gánh nặng ấy xấu mà vì nó chẳng cần mang theo, khi bỏ xuống gió sẽ ấm hơn đường sẽ nhẹ hơn và con sẽ thấy chẳng bao giờ con cần đến cái túi ấy cả. Gã ăn xin ngẫm nghĩ suốt đêm, sáng hôm sau người ta thấy anh bước đi hai tay rỗng mắt sáng không còn túi vải cũng không còn vẻ nhọc nhằn.
Ý nghĩa câu chuyện, đừng mang thiện ác theo mình vì con đường đạo là con đường nhẹ bước, mỗi điều lành đã qua hãy để nó rơi lại như chiếc lá cuối mùa, mỗi lỗi lầm từng phạm hãy sám hối rồi để gió cuốn trôi. Khi người không giữ gì không mang gì tâm mới rỗng chân mới vững mắt mới sáng, đó là tự do thật sự và đó mới là đạo.
Phần hai mươi bốn, chặt đứt cả thiện lẫn ác chân tâm rỗng rang hiện bày. Từ thuở mới bước vào đạo người học thường mang theo một chiếc túi đầy. Ước mong làm điều lành tránh điều dữ, tìm con đường giải thoát qua việc tu tập thiện nghiệp. Đó là khởi đầu cần thiết như trẻ học đi cần vịn vào tường, nhưng đi được rồi mà còn nắm tường thì không thể chạy xa. Cũng vậy, người tu đến một lúc phải đủ dũng khí buông cả thiện lẫn ác để thấy được bản tâm không hình tướng không đối đãi.
Chặt đứt thiện không phải vì khinh thiện mà vì thiện còn dính thì chưa thật là thiện, buông ác không phải vì sợ ác mà vì thấy rõ ác cũng chỉ là bóng nổi của tâm phân biệt. Chân tâm vốn không thêm không bớt không sạch không nhơ, nó như mặt Trời chưa từng ưu ái ánh sáng chưa từng kỳ thị bóng tối. Khi ta không còn trụ vào thiện không còn tránh né ác, khi tâm như Trời rộng như gương sáng thì chân tâm rỗng rang ấy liền hiển bày không cần mời gọi.
Câu nói khi thiện ác đã rơi tâm chẳng còn chỗ trụ, ấy là lúc chân tâm tỏa sáng như chính nó xưa nay. Ý nghĩa câu nói, đạo không nằm nơi thiện cũng không trú trong ác. Đạo nằm ngay nơi tâm không phân biệt, nơi không còn thấy mình tu không còn thấy ai là người tu. Cái tâm ấy không làm thiện không làm ác, nhưng mỗi hành vi từ nó phát ra đều là chánh hạnh đều là sáng suốt. Thiền sư sống với tâm ấy như người đi giữa Trời mây, nhẹ thong dong không cần mục tiêu.
Họ không còn hỏi, tôi đang làm điều đúng chăng? Mà mỗi bước đều là đúng vì không khởi từ cái ta muốn đúng thiện ác đúng sai tất cả là bài học là cánh cửa. Nhưng nếu ta không bước qua, cứ ngồi mãi trước cửa khen chê thiện ác ấy thì đạo mãi còn xa, chặt đứt là bước đầu giải thoát và khi chẳng còn gì để chặt nữa thì chân tâm như trăng rằm, tròn đầy mà không cần thêm ánh sáng. Câu chuyện người thợ chạm gỗ và pho tượng cuối cùng.
Một nghệ nhân già sống ven núi cả đời tạc tượng Phật, tượng ông làm ai cũng khen là có thần. Một hôm có người hỏi, bác học cách chạm thế nào? Ông đáp tôi không học gì cả, tôi chỉ ngồi trước khúc gỗ và lặng. Khi tâm tôi không còn nghĩ đây là tượng Phật, không còn mong tượng đẹp không còn sợ tượng xấu thì tay tôi chạm ra hình gỗ tự hiện Phật. Người kia không hiểu, ông cười khi tôi còn nghĩ mình đang làm điều thiện tượng ra nhưng chưa sống, khi tôi không còn nghĩ gì tượng tự thành không phải do tôi.
Sau này ông ngừng làm tượng, người ta hỏi lý do ông chỉ nói Phật không nằm trong gỗ. Khi trong tôi không còn bóng thiện ác Phật hiện nơi tâm không cần tượng nữa. Ý nghĩa câu chuyện, chặt đứt cả thiện lẫn ác không phải để trở nên trống rỗng mà là để trở về với sự tròn đầy nguyên sơ của chân tâm, khi không còn gì để giữ, để tránh để trụ thì chân tâm tự hiện. Người tu lúc đó không cần trở thành gì cả vì họ đã trở về với chính mình, nơi không còn hai bờ không còn ai để gọi là người giác ngộ. Đó là bước chân cuối và cũng là bước đầu thong dong giữa vô tận.
Phần kết, chặt đứt tâm thiện mới thấy chân tâm không phải để phủ nhận thiện, cũng chẳng để cổ xúy điều gì cực đoan mà là để gợi mở một lối nhìn sâu hơn tỉnh lặng hơn. Nơi mà đạo không nằm trong ngôn từ hay hình thức mà nằm ngay nơi tâm không còn chỗ trụ, nơi mỗi hơi thở trở về là một lần thấy đạo. Đạt Ma Tổ đã để lại một con đường không dấu chân, nhưng bước theo lại sáng rỡ vô cùng. Đó là con đường đi vào chân tâm rỗng rang, nơi không còn thiện để giữ không còn ác để bỏ, chỉ còn sự hiện diện trong sáng trầm mặt như hư không bao la.
Nếu trong từng phần nhỏ quý vị đã từng lặng đi vài giây, từng thấy lòng mình nhẹ lại đôi chút thì ấy chính là lúc chân tâm khẽ khàn ghé đến. Đừng vội đuổi theo cũng đừng cố giữ, chỉ cần tiếp tục sống chậm lại lặng lại thì mọi pháp đều sẽ dần tan, chỉ còn lại một tiếng chuông ngân trong lòng tỉnh thức. Một lượt chia sẻ, một lượt thích đôi khi cũng là một đóa hoa lành gửi đến ai đó đang lạc bước giữa đời. Xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe, đã cùng chúng tôi đi hết một đoạn đường đầy thiền vị.
Video gốc chặt đứt tâm thiện dài một tiếng 30 phút 46 giây đăng trên kênh youtube Tâm Không Quán, định dạng mp4 được tạo bởi Tâm Không Quán.
Đồng đạo tự tải hoặc chọn hai dạng khác Khương Itvtbadboy chuyển đổi phù hợp nhu cầu âm thanh hoặc xem khi rãnh với sổ tay pdf.