Hòa thượng Thích Giác Khang kể lại một câu chuyện chân thật trong kinh Địa Tạng hé mở bí mật rung động. Bồ Tát Địa Tạng đã chỉ rõ bốn lỗi lầm vi tế khiến người tu đang tạo nghiệp sa đọa. Lỗi thứ nhất làm điều thiện mà thật ra tạo nghiệp, lỗi thứ hai cố chấp mà tưởng là tinh tấn, lỗi thứ ba giữ giới mà lại phá giới, lỗi thứ tư tu huệ mà lại tăng thêm si mê.
A Di Đà Phật. Thưa quý vị Phật tử hôm nay thầy muốn kể lại một câu chuyện rất sâu sắc, nghe qua tưởng chỉ là truyện cổ mà thật ra là lời cảnh tỉnh cho tất cả người tu hành chúng ta. Bởi đức Phật từng dạy người tu thì nhiều như cát sông Hằng nhưng người đắc đạo thật sự thì hiếm như sao mai đầu ngọn trúc. Câu nói đó nếu mình nghe hời hợt sẽ nghĩ Phật nói cho có nhưng nếu chịu dừng lại quán chiếu sẽ thấy trong đó là một nỗi bi thương vô lượng. Vì sao người tu đông đảo như vậy mà cuối cùng vẫn có kẻ rơi vào cảnh khổ thậm chí còn đọa làm súc sanh?
Nhiều người trong chúng ta nghĩ đơn giản rằng tu hành là giữ giới tụng kinh làm phước cúng dường thì chắc chắn được giải thoát, nhưng thưa quý vị con đường tu đâu phải chỉ là chuyện hình thức cũng giống như mình gieo hạt chanh xuống đất phải ba năm bốn năm mới có trái, mà hễ hạt chanh thì không bao giờ trổ ra trái cam nhân nào thì quả đó. Tu hành mà gieo nhân sai dù có siêng năng mấy cuối cùng cũng gặt quả lệch. Phật Pháp không thiên vị ai, nó vận hành theo nhân duyên nhân quả một cách tự nhiên.
Có khi quý vị thấy một người tu rất tinh tấn ngày nào cũng tụng kinh lễ Phật làm việc thiện nhưng vì tâm họ còn ẩn chứa tham sân si mạng cho nên công phu ấy biến thành nghiệp không phải là phước, cũng như nước trong mà đổ thêm chút bùn tuy vẫn là nước nhưng uống vào không được nữa. Cái nguy hiểm nhất trong tu hành là chỗ đó, tưởng mình đang đúng mà thật ra đang sai, trong kinh Địa Tạng Bồ Tát có nói người tu nhiều vô lượng mà người đắc đạo thì ít. Vì sao?
Vì có những lỗi lầm vi tế rất kín đáo ẩn mình trong chính cái tâm thiện của mình, cho nên có khi mình càng tu lại càng xa đạo. Thầy nói vậy không phải để quý vị sợ tu mà là để tỉnh táo, giống như người lái đò qua sông nếu không biết luồng nước ngầm tưởng chỗ đó yên mà chèo tới thuyền sẽ lật lúc nào không hay. Câu chuyện thầy muốn kể xảy ra vào thời nhà Đường, có một vị sư trẻ tên là Chí Minh tu ở chùa Từ Ân trên núi Trung Nam.
Thầy Chí Minh vốn con nhà giàu nhưng bệnh tật từ nhỏ, Cha Mẹ gởi vào chùa nhờ duyên lành mà xuất gia. Thầy thông minh lắm học đâu hiểu đó chỉ mười năm đã thông cả kinh luật luận, được sư phụ hòa thượng Tuệ Giác rất thương yêu xem như người nối Pháp. Nhưng rồi một ngày kia, trong lúc ngồi thiền ở rừng trúc thầy gặp một chuyện lạ, có con khỉ trắng thân thể sạch như tuyết ngồi chắp tay như người, khi thấy thầy nó chảy nước mắt rồi biến mất.
Ban đầu thầy nghĩ là điềm lạ thôi nhưng những ngày sau thầy lại thấy nhiều hiện tượng khác, một con chim ưng đậu mãi trên nóc chùa khi nghe tiếng tụng kinh, một con rắn to nằm cuộn ngoài lầu kinh mỗi lần có ai đi ngang đều khẽ cúi đầu. Quý vị nghe qua tưởng như chuyện huyền hoặc nhưng trong nhà Phật những hiện tượng như thế không hiếm, chỉ là ít người đủ tâm tĩnh để nhận ra. Thầy Chí Minh đem chuyện kể lại cho sư phụ, nghe xong hòa thượng Tuệ Giác trầm ngâm rất lâu rồi nói con à có thể đó không phải là thú bình thường, theo kinh sách cổ có những chúng sanh kiếp trước từng tu hành nhưng vì phạm lỗi vi tế nên đọa làm súc sanh.
Nhờ chút căn lành xưa mà vẫn còn linh tánh, còn nhớ Phật Pháp cho nên chúng tụ về chùa nghe kinh tụng kệ mà cảm động. Nghe đến đó thầy Chí Minh rung người thầy hỏi, sư phụ tu mà sao lại rơi vào cõi súc sanh được, tu là để giải thoát mà? Hòa thượng thở dài, đúng tu là để giải thoát nhưng nếu tu sai hướng thì tu chính là tạo nghiệp, người thế gian làm sai thì đọa một bậc còn người tu mà làm sai thì đọa mười bậc. Vì sao?
Vì họ nhân danh Phật Pháp để tạo nghiệp, cái nhân đó nặng lắm! Thưa quý vị, nghe đến đây mình thấy lạnh gáy, hóa ra không phải cứ cạo đầu đắp y hay đọc nhiều kinh là an toàn mà cái cần tu nhất chính là tâm, nếu tâm còn lẫn chút ngã mạn chút hơn thua chút chấp trước thì dù mình có ngồi thiền cả đời cái tâm ấy vẫn lạc đường. Tu hành không phải là để trở thành người tốt hơn người khác mà là để thấy rõ mình vốn chưa tốt, để buông bỏ từng chút vô minh đã bám sâu từ vô lượng kiếp.
Bởi vậy đức Phật dạy tu mà thấy mình tu giỏi là đã sai, giống như người bệnh đang uống thuốc mà lại tự cho mình khỏe ngừng thuốc giữa chừng bệnh trở lại nặng hơn. Trong đạo cũng vậy, tu hành mà không soi lại tâm thì công phu dễ biến thành sở chi chướng. Thầy kể đến đây quý vị hãy dừng lại chút xíu, tự hỏi mình tu có thật sự vì giải thoát hay vì mong bình an mong có phước mong người khác khen là mình có đạo tâm?
Nếu trong lòng còn cái mong thì hạt nhân đó vẫn là tham, tham dù khoác áo đạo cũng vẫn là tham chỉ là nó đổi hình tướng. Cho nên phần đầu câu chuyện này là một lời nhắc sâu sắc, tu hành không phải để trở thành một hình ảnh mà là để trở về với bản tâm chân thật, tu là nhận lại không phải cải sửa. Như thầy thường nói, Phật không ở đâu xa Phật ở ngay nơi tâm mình, khi không còn vọng tưởng đó là bước khởi đầu của câu chuyện và cũng là lời mở đầu cho bài học lớn về bốn lỗi lầm vi tế mà người tu dễ phạm.
Nhưng trước khi bước vào phần đó thầy mong quý vị nhớ lấy điều này, chưa hiểu đạo thì đừng vội hành mà phải soi lại cái nhân mình đang gieo vì nếu nhân đã lệch quả sẽ không ngay dù có chăm bón bao nhiêu cũng chỉ nở ra hoa sai hướng, A Di Đà Phật A Di Đà Phật. Thưa quý vị, tiếp theo câu chuyện chúng ta sẽ cùng đi sâu hơn vào con đường tìm đạo của thầy Chí Minh và hòa thượng Tuệ Giác. Hai thầy trò đã bắt đầu nhận ra rằng con đường tu không chỉ có hoa sen mà còn có nhiều cạm bẫy vi tế, chỉ một niệm sai cũng đủ đọa nhiều kiếp.
Sau khi nghe sư phụ giảng giải rằng những con vật quanh chùa có thể là người tu hành kiếp trước bị sa đọa thầy Chí Minh không khỏi bàng hoàng. Từ hôm ấy tâm thầy không còn an, mỗi lần nhìn thấy con khỉ trắng hay con chim ưng con rắn trong lòng thầy lại dấy lên một niềm thương xót khôn nguôi, thầy nghĩ nếu thật sự chúng từng là người tu thì nguyên nhân gì khiến họ lạc đường đến mức này? Một buổi chiều khi ánh hoàng hôn rọi xuống khu rừng trúc thầy Chí Minh lại gặp con khỉ trắng ấy.
Lần này nó không bỏ chạy nữa, thầy tiến đến khẽ nói có phải ngươi từng là người tu hông? Con khỉ nhìn thầy, trong đôi mắt ngấn lệ rồi khẽ gật đầu nó cúi xuống dùng móng vuốt viết lên đất mấy chữ kiếp trước là thầy tu kiếp này chịu báo. Quý vị nghe câu đó có thấy rùng mình không? Kiếp trước là thầy tu kiếp này chịu báo, cái nhân gieo không đúng dù mặc áo tu vẫn có thể thành nghiệp ác. Thầy Chí Minh bàng hoàng hỏi ngươi phạm tội gì mà phải chịu báo như thế? Con khỉ run run viết tiếp không biết lỗi gì chỉ biết đau khổ.
Thưa quý vị, nghe tới đây chúng ta thấy thương mà cũng sợ, thương vì chúng sanh mê muội tu mà không hiểu mình sai ở đâu, sợ vì chính mình nếu không tỉnh cũng có thể đi vào con đường đó mà không hay. Thầy Chí Minh đem chuyện kể lại cho sư phụ, hòa thượng Tuệ Giác trầm ngâm rất lâu rồi nói Chí Minh à xem ra chuyện này không phải tầm thường, nếu những người tu kia còn không biết mình phạm lỗi gì thì chứng tỏ cái lỗi đó rất vi tế rất khó nhận ra, ta cũng không dám phán đoán bừa e rằng việc này vượt ngoài tầm hiểu biết của ta.
Nói rồi hòa thượng nhớ đến một truyền thuyết cổ xưa trong lòng núi Trung Nam, có một hang động huyền bí nơi Bồ Tát Địa Tạng từng hiện thân lập đạo tràng ở cõi người, ai có đủ duyên đủ tâm có thể được ngài chỉ dạy. Hòa thượng nhìn đệ tử giọng nghiêm nghị mà từ bi, con có dám cùng ta vào núi tìm đạo tràng của Bồ Tát không? Không chút do dự thầy Chí Minh chắp tay, thưa sư phụ con xin đi. Hai thầy trò bắt đầu chuyến hành trình, đường núi Trung Nam hiểm trở rừng sâu trùng điệp thú dữ đá sắt suối lạnh gió rét thấu xương nhưng hai người vẫn lặng lẽ bước, tay lần tràng hạt miệng niệm danh hiệu Địa Tạng, bảy ngày bảy đêm họ đi qua bao gành thác vượt bao hang động nhưng vẫn không thấy dấu hiệu nào của đạo tràng.
Đến ngày thứ tám khi cả hai gần như kiệt sức thầy Chí Minh chợt thấy bóng con khỉ trắng xuất hiện trước mặt, nó nhìn hai người một lát rồi đưa tay chỉ về phía sâu trong núi, thầy nói khẽ sư phụ hình như nó muốn chỉ đường. Hòa thượng gật đầu, nếu là duyên cứ theo nó. Con khỉ trắng dẫn đường thoát ẩn thoát hiện, đường đi lạ lắm có lúc phải băng qua rừng rậm có lúc phải leo lên vách đá cheo leo có lúc đi giữa sương mù dày đặc mà chỉ nghe tiếng suối chảy vọng lại, nhưng kỳ lạ thay mỗi chỗ con khỉ dẫn đi đều có đường mòn nhỏ như thể đã có người bước qua từ trước.
Cuối cùng sau ba canh giờ họ đến một thung lũng nhỏ bị dây leo phủ kín, ở giữa có một cửa hang hẹp mờ mờ ánh sáng, con khỉ dừng lại trước cửa hang cúi đầu đảnh lễ rồi biến mất. Hòa thượng và thầy Chí Minh hiểu rằng đây chính là nơi Bồ Tát Địa Tạng từng hiện thân, hai thầy trò chỉnh y phục đảnh lễ rồi bước vào bên trong hang tỏa ra một luồng sáng dịu không phải ánh mặt trời mà như ánh hào quang, ở sâu nhất có pho tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát bằng ngọc trắng dung nghi từ bi ánh mắt như đang nhìn thấu tận tâm người.
Hai thầy trò quỳ xuống đảnh lễ và chí thành cầu nguyện đệ tử Tuệ Giác Chí Minh thành tâm đảnh lễ Bồ Tát, xin ngài từ bi chỉ dạy vì sao có người tu hành mà lại rơi vào cõi súc sanh? Ngay khi vừa dứt lời trong hang vang lên một giọng nói trầm hùng nhưng chan chứa lòng thương, lành thay lành thay các con có lòng cầu Pháp đó là nhân lành lớn, những chúng sanh mà các con thấy đúng là người tu hành từ kiếp trước vì họ đã phạm những lỗi lầm rất kín đáo nên mới có quả báo như ngày nay.
Giọng nói ấy không lớn nhưng vang trong tâm khiến hai người quỳ rạp xuống. Hòa thượng run run thưa, bạch Bồ Tát xin ngài chỉ dạy rõ để chúng con tránh lầm lỗi. Bồ Tát đáp, con đường tu hành đầy cạm bẫy không phải cứ thấy sáng là sáng, có những lỗi nhìn thì nhỏ nhưng đủ khiến người tu sa đọa muôn kiếp, bốn lỗi đó nếu không tỉnh giác ai cũng có thể phạm. Nghe đến đây hai thầy trò nín thở lòng vừa sợ vừa kính. Bồ Tát nói tiếp:
Lỗi thứ nhất, làm điều thiện mà thật ra tạo nghiệp.
Lỗi thứ hai, cố chấp mà tưởng là tinh tấn.
Lỗi thứ ba, giữ giới mà lại phá giới.
Lỗi thứ tư, tu huệ mà lại tăng thêm si mê.
Nói đến đây giọng ngài chậm lại hiền hòa mà sâu như tiếng chuông chùa, những lỗi này đều vi tế xảy ra khi người tu tự cho rằng mình đang đúng nhất, đó là lý do người tu nhiều mà người giải thoát lại ít. Thưa quý vị, nghe đến đoạn này chúng ta nên dừng lại để chiêm nghiệm, Bồ Tát không nói những điều xa vời ngài nói chính căn bệnh của người học đạo hôm nay, làm lành mà cầu danh tinh tấn mà cố chấp giữ giới mà sinh ngạo mạn học Pháp mà tăng vọng tưởng, đó đều là điều ta có thể thấy trong chính bản thân mình.
Hai thầy trò quỳ lặng nước mắt chảy dài, hòa thượng khẩn cầu bạch Bồ Tát xin ngài giảng giải chi tiết để chúng con hiểu rõ. Bồ Tát đáp, không thể nói suông mà hiểu được, muốn thật sự thấu suốt các con phải chứng kiến tận mắt cảnh giới của những người tu đã sa ngã kia để biết rằng chỉ một niệm sai cũng đủ muôn kiếp hông về. Thầy Chí Minh và hòa thượng đồng thanh chúng con xin sẵn lòng, giọng nói từ bi vang lên lành thay hãy vững tâm ta sẽ đưa thần thức các con đi qua ba cõi chứng kiến sự thật.
Ngay lập tức hai người cảm thấy thân nhẹ bẩn, ý thức như rời khỏi thân xác chỉ còn tấm lòng thuần tịnh, họ thấy Bồ Tát Địa Tạng đứng giữa hào quang tay cầm tích trượng ánh mắt tràn đầy thương xót, ngài khẽ nói hãy theo ta và cuộc hành trình huyền nhiệm bắt đầu. Hành trình sẽ mở ra sự thật kinh hoàng về những người tu hành sa đọa và cũng là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta đang bước đi trên con đường tìm đạo, A Di Đà Phật.
Thưa quý vị phần này là lúc hai thầy trò hòa thượng Tuệ Giác và thầy Chí Minh bắt đầu hành trình nhiệm mầu theo bước chân của Bồ Tát Địa Tạng, đây là phần sâu sắc nhất vì chính họ đã được tận mắt chứng kiến những cảnh giới đau thương của người tu hành phạm lỗi mà rơi vào cõi súc sanh để rồi từ đó mà tỉnh ngộ mà rơi nước mắt. Khi thần thức rời thân hai người thấy mình đứng giữa hư không, ánh sáng từ thân Bồ Tát chiếu ra khắp mười phương vừa rực rỡ vừa ấm áp khiến tâm họ không còn sợ hãi, ngài phất nhẹ tích trượng cảnh vật xung quanh liền biến đổi.
Trước mắt họ là những ngôi chùa am thất đạo quán nằm rải rác khắp nơi trong cõi người, hòa thượng Tuệ Giác và thầy Chí Minh ngạc nhiên vì họ thấy chung quanh các ngôi chùa ấy có vô số loài vật khỉ chim chó rắn trâu ngựa mèo thậm chí cả cá ếch quanh hồ, điều kỳ lạ là trong ánh mắt những con vật đó đều có nét buồn sâu thẳm ánh lên một chút linh tánh như thể hiểu được Phật Pháp. Thầy Chí Minh hỏi bạch Bồ Tát chẳng lẽ tất cả những con vật này đều từng là người tu?
Bồ Tát gật đầu giọng từ bi mà nghiêm, đúng vậy đây chỉ là phần nhỏ thôi, người tu bị sa vào cõi súc sanh nhiều hơn các con tưởng. Nghe xong hai thầy trò lặng người, Bồ Tát đưa tay chỉ một con trâu to đôi mắt nó đượm buồn như người sám hối, kiếp trước nó là một vị thiền sư đã tu hành 40 năm, ông giỏi thiền định được người tôn kính nhưng vì một niệm kiêu ngạo cho rằng mình chứng chê bai các pháp môn khác nên tạo nghiệp ngã mạn, khi lâm chung tâm chưa thanh tịnh thần thức liền theo nghiệp mà đọa làm trâu.
Quý vị thấy đó, chỉ một niệm ngã mạn mà đủ đọa ba đường ác, người đời thường phạm tội do tham sân nhưng người tu phạm tội do tưởng mình đúng, cái sai của phàm phu dễ thấy còn cái sai của người tu thì ẩn trong lớp áo đạo đức cho nên khó nhận ra lắm. Rồi Bồ Tát chỉ một con chó gầy gò đang nằm trước cổng chùa, con chó này kiếp trước là một vị tăng học rộng hiểu sâu chuyên giảng kinh luật nhưng trong tâm ông lại có thói quen dùng lời nói để hạ thấp người khác, mỗi khi thấy ai tu khác mình ông mỉa mai chê bai, vì miệng gieo ác khẩu trong hình tướng Phật Pháp nên nay phải làm loài súc sanh chỉ biết sủa không nói được lời lành.
Thưa quý vị đó chính là nghiệp khẩu, người đời chửi bới mắng nhiếc đã tạo nghiệp huống chi người tu lại lấy danh nghĩa Phật Pháp để chê bai người khác. Đức Phật dạy lời nói là chiếc bánh xe nghiệp báo quay một vòng là tạo một vòng nhân quả, cho nên miệng niệm Phật mà tâm chấp ngã cũng không khác gì đang niệm tên mình. Kế đó Bồ Tát đưa hai thầy trò đến bên hồ nước nơi có một con quạ đen đang kêu inh ỏi, Bồ Tát nói con quạ này kiếp trước từng có thần thông biết trước tương lai nhưng vì tâm không khiêm hạ, thích khoe khoang khiến người đời mê muội tin lời lệch khỏi chánh Pháp kết quả là tạo nghiệp tà trí nên đọa làm loài quạ suốt đời kêu than trong bóng tối.
Hòa thượng Tuệ Giác rơi nước mắt, ngài chắp tay run giọng hỏi bạch Bồ Tát họ đã tu nhiều kiếp như thế sao vẫn có thể lạc đường đến nỗi này? Bồ Tát đáp bởi vì khi công phu tăng thì bản ngã cũng dễ lớn, nếu không soi lại tâm người ta sẽ đồng hóa sự tiến bộ với sự chứng đắc, coi hiểu biết là trí tuệ coi hình tướng là đạo đó là gốc của sa đọa. Nghe lời ấy thầy Chí Minh cảm thấy rúng động, thầy chợt nhận ra trong chính mình cũng từng có niệm nghĩ rằng mình hiểu đạo hơn người khác, một ý nghĩ thoáng qua thôi nhưng nếu không nhận ra cũng đủ trở thành mầm mống của đọa lạc.
Bồ Tát lại đưa họ đi sâu hơn xuyên qua cảnh giới của loài vật, hai người thấy những đàn gà đàn vịt trong chuồng chật hẹp tiếng kêu thảm thiết, thấy những con thú dữ nơi rừng sâu ngày giết chóc để sinh tồn, thấy những con cá con tôm bị vớt lên vùng vẫy trong tuyệt vọng. Bồ Tát nói, trong đó có không ít chúng sanh từng là người tu hành từng đọc kinh từng giảng pháp từng ngồi thiền nhưng vì phạm lỗi vi tế nên mất thân người rơi vào cõi súc sanh, điều đau đớn nhất là phần lớn họ vẫn còn nhớ được chút ít ký ức xưa biết mình từng tu nhưng không thể thoát ra.
Thưa quý vị, quý vị nghe tới đây có thấy lạnh sống lưng hông? Họ biết mình từng trì giới từng lạy Phật mà giờ lại làm con vật trong chuồng bị mổ bị giết bị ăn, cái đau đó không gì tả nổi và họ cũng hông biết mình sai ở đâu đó mới là nỗi khổ cùng cực của người tu lạc hướng. Thầy Chí Minh khóc mà hỏi, bạch Bồ Tát vậy họ còn có thể được cứu hông? Bồ Tát gật đầu, Phật Pháp vô biên tâm từ vô tận chỉ cần họ biết sám hối phát nguyện sửa lỗi sớm muộn cũng sẽ trở lại làm người nhưng thời gian đó dài lắm, có khi hàng trăm hàng ngàn năm và khi được làm người nếu không hiểu nguyên nhân kiếp trước rất có thể lại lặp lại vết xe cũ.
Nghe đến đó hòa thượng Tuệ Giác và thầy Chí Minh cùng cúi đầu đảnh lễ, hòa thượng nghẹn ngào bạch Bồ Tát chúng con nguyện khắc ghi cảnh này để không bao giờ dám khởi niệm ngã mạn dù chỉ một sát na. Bồ Tát nhìn họ ánh mắt như biển cả, tốt lắm các con đã thấy cái quả của sai lầm nhưng muốn thoát khỏi nhân sai phải hiểu rõ bốn lỗi căn bản mà ta đã nói, chỉ khi thấy rõ mới tránh được. Thưa quý vị, đến đây chúng ta cũng nên dừng lại mà tự hỏi mình có bao giờ mình làm điều thiện để được người khen, có bao giờ mình thấy ai tu khác mình thì trong lòng khởi niệm xem thường, có bao giờ mình tự hào rằng mình giữ giới giỏi mình hiểu Pháp sâu? Nếu có dù chỉ một chút thôi thì đó chính là hạt giống của bốn lỗi lầm vi tế ấy.
Cõi người quý như vậy mà chỉ một niệm sai cũng đủ mất, cho nên đức Phật mới dạy tu mà không thấy lỗi mình tức là đang lùi. Người thật tu càng tu càng thấy mình nhỏ còn người tu sai càng tu càng thấy mình lớn, thấy mình lớn tức là đã bắt đầu sa xuống, A Di Đà Phật. Thầy kể đến đây để quý vị cùng tỉnh, cái thấy đó không phải để sợ mà để cảnh giác Phật Pháp không hề xa mà ở ngay trong mỗi niệm của mình, niệm sai thì thành địa ngục niệm đúng thì thành cực lạc chỉ một sát na thôi là có thể đổi cả kiếp luân hồi, và từ đây hai thầy trò sẽ được Bồ Tát chỉ dạy tường tận về bốn điều cấm kỵ vi tế trong tu hành, những điều khiến người tu có thể mất tất cả công đức chỉ trong một ý niệm.
Thưa quý vị, phần này là lúc Bồ Tát Địa Tạng bắt đầu chỉ dạy cho hai thầy trò Tuệ Giác và Chí Minh về bốn điều cấm kỵ trong tu hành, mà điều thứ nhất chính là làm việc thiện mà thật ra đang tạo nghiệp. Nghe qua thì mâu thuẫn nhưng trong đạo những điều trái tai mới chính là cửa mở của trí tuệ, nếu chúng ta không chịu nhìn sâu vào tâm rất dễ lầm lẫn giữa thiện nghiệp và thiện tướng, giữa cái thấy Phật và cái thấy của bản ngã.
Bồ Tát chậm rãi nói giọng ngài vang như tiếng chuông sớm, chư tăng chư ni cư sĩ tu hành ở đời này ai cũng nói làm việc thiện tu phước giữ giới hành bố thí tụng kinh niệm Phật, nhưng nếu động cơ bên trong không thanh tịnh thì dù việc ấy mang dáng thiện vẫn là tạo nghiệp. Vì sao? Vì cái nhân trong tâm mới là hạt giống còn hành vi bên ngoài chỉ là cái bóng. Thầy Chí Minh nghe mà run lên, thầy hỏi bạch Bồ Tát làm thiện là tốt tại sao lại thành tạo nghiệp ạ?
Bồ Tát mỉm cười, nếu con đem một nắm hạt giống gieo xuống đất nhưng trong đó lẫn cả hạt thối thì cây mọc lên có ra trái lành hông? Thiện mà có tâm cầu danh có tâm so đo có tâm kiêu mạng thì thiện ấy đã mang mầm ác, cái nguy là ở chỗ đó. Rồi ngài giảng tiếp, có người bố thí tiền của nhưng trong lòng là để người khác khen là Phật tử giàu lòng từ bi, có người tụng kinh niệm Phật nhưng không vì cầu giải thoát cho chúng sanh mà là để cầu phước cho bản thân cầu an cầu đắc lực cầu thần thông, lại có người giữ giới thật nghiêm nhưng tâm thì nghĩ mình hơn người khinh rẻ kẻ khác. Ba hạng người ấy bề ngoài tu thiện mà bên trong tích nghiệp.
Thưa quý vị, nghe tới đây thầy phải dừng lại mà nói thật, đây chính là căn bệnh lớn nhất của người tu thời nay. Chúng ta có thể thuộc kinh có thể làm việc thiện nhưng nếu tâm chưa thuần thiện ấy chỉ là cái áo khoác, Phật Pháp không phải là sân khấu để mình diễn vai hiền mà là nơi mình trút bỏ cái ta hiền, nếu còn thấy ta đang làm thiện ta đang tu thì ta đó chính là gốc của sinh tử. Bồ Tát nhìn hai thầy trò rồi nói, người đời làm ác còn dễ cứu vì họ biết mình ác còn người tu làm thiện mà động cơ nhiễm ô thì khó cứu vô cùng vì họ tưởng mình đúng.
Cái đúng đó là ảo giác của bản ngã nó tinh vi lắm, ẩn sau khuôn mặt đạo đức sau tiếng niệm Phật đều đặn sau những việc bố thí công đức. Hòa thượng Tuệ Giác chắp tay nước mắt rơi bạch Bồ Tát, vậy làm sao để biết việc thiện của mình có nhiễm ô không? Bồ Tát đáp rất đơn giản, làm xong một việc con hãy soi lại xem trong lòng có còn vướng gì không, nếu làm xong mà thấy nhẹ nhàng thanh thản không mong người biết không mong được báo đáp đó là thiện chân thật. Còn nếu trong tâm vẫn có một chút vui vì được khen một chút tiếc khi bị hiểu lầm một chút so đo với người khác thì con nên biết trong đó có hạt nhân của nghiệp.
Thưa quý vị, nghe vậy ta mới thấy rằng điều thiện cũng cần trí tuệ soi sáng không thì sẽ thành thiện ngu, làm thiện mà không có trí giống như người cầm đuốc đi trong gió dễ bị cháy chính mình. Đức Phật từng dạy làm thiện mà chấp thiện, thiện ấy thành chướng đạo. Bồ Tát lại nói tiếp, nhiều người đời tưởng rằng làm việc lớn bố thí nhiều thì công đức nhiều, nhưng công đức không nằm ở việc to hay nhỏ mà ở tâm có vô ngã hay không, một bát cơm cúng dường với lòng thương vô điều kiện công đức còn lớn hơn người xây chùa vạn lượng vàng mà trong tâm cầu tiếng tăm.
Quý vị thấy hông, Phật Pháp là đạo của tâm không phải đạo của hình tướng, chúng ta lạy Phật không phải để Phật nhớ mình mà để mình nhớ Phật. Phật chẳng cần ai ca ngợi chỉ mong ta hiểu được chân lý trong từng hơi thở. Rồi Bồ Tát kể cho hai thầy trò nghe một câu chuyện, có người tu suốt 30 năm ngày nào cũng tụng kinh bố thí giúp người, khi mất thần thức không về cõi lành mà rơi vào cõi thấp vì sao? Vì ông luôn nghĩ rằng ta làm nhiều phước lắm ta đáng được sinh thiên, chính cái niệm ta đáng được ấy là sợi dây trói buộc kéo ông vào cõi hữu lậu.
Khi tâm còn chấp công phước hóa thành nghiệp, thầy Chí Minh nghe mà rùng mình thầy chắp tay nói bạch Bồ Tát như vậy tu mà chấp công thì chẳng khác gì xây nhà trên cát? Bồ Tát gật đầu, đúng vậy con đường giải thoát là con đường không người đi không công để kể không quả để nhận, khi con còn thấy mình đang tu đang làm thiện đang hướng đến niết bàn thì vẫn còn hai bên, chỉ khi không còn người tu không còn việc để làm không còn mục tiêu để đến lúc đó đạo mới hiển lộ.
Thưa quý vị, nghe thì cao siêu nhưng đem xuống đời sống rất gần gũi, mỗi lần mình giúp ai hãy hỏi lại tôi làm vì thương hay vì muốn họ nhớ ơn, mỗi lần mình tụng kinh hãy hỏi tôi đọc để tâm mình thanh tịnh hay để khoe rằng tôi tụng được nhiều quyển, chỉ cần nhìn lại như vậy thôi là mình đã bắt đầu thấy Phật rồi. Bồ Tát nói thêm, thiện giả dối là cửa đầu tiên của địa ngục, người tu phải tránh nó bằng cách soi tâm từng niệm, đừng sợ mình còn lỗi chỉ sợ mình không chịu thấy lỗi.
Thấy lỗi là tỉnh không thấy lỗi là mê, mê thì thiện cũng thành ác tỉnh thì ác cũng hóa thiện. Nghe lời ấy hòa thượng Tuệ Giác cúi đầu đảnh lễ bạch Bồ Tát, chúng con nguyện từ nay mỗi việc làm đều soi lại tâm không vì danh không vì lợi không vì chứng chỉ vì thương chúng sanh. Bồ Tát mỉm cười, lành thay khi nào con làm mà không còn thấy mình làm lúc ấy phước đức và trí huệ tự nhiên tròn đủ.
Thưa quý vị bài học hôm nay thật quý, điều thiện không nằm ở hình tướng mà nằm ở tâm vô ngã, làm thiện để chứng minh mình tu là tạo nghiệp, làm thiện để quên mình để lợi người đó mới là công đức. Cái thiện của người tu không phải là làm cho đúng mà là thấy cho đúng, thấy đúng rồi tự nhiên việc nào cũng thiện lời nào cũng lành. Tu hành không phải là sưu tầm công đức mà là trở về cái tâm không còn đếm công đức nữa, cũng như người uống nước khi đã hết khát rồi thì đâu cần ghi lại từng giọt. Vậy nên đức Phật mới dạy làm mà không thấy mình làm phước ấy mới vô lượng.
Bồ Tát Địa Tạng bắt đầu giảng giải cho hai thầy trò Tuệ Giác và Chí Minh về lỗi lầm thứ hai của người tu hành, một lỗi cực kỳ vi tế mà hầu như ai cũng từng vướng phải đó là cố chấp mà tưởng là tinh tấn. Nghe qua tưởng như khen nhưng thật ra đây là cánh cửa ngầm dẫn vào tà kiến khiến biết bao người tu lạc mất con đường giải thoát vì sao? Vì giữa tinh tấn và cố chấp chỉ cách nhau một sợi tóc mà nếu không đủ trí tuệ để phân biệt thì người tinh tấn hôm nay sẽ trở thành người cố chấp ngày mai.
Bồ Tát nhìn hai thầy trò giọng ngài hiền từ mà nghiêm nghị, người mới học đạo lòng đầy nhiệt huyết ngày đêm tụng kinh lễ Phật giữ giới hành thiện tâm không mệt mỏi đó là tinh tấn, nhưng nếu lòng ấy thiếu trí tuệ soi sáng thì tinh tấn sẽ biến thành cố chấp, cố chấp vào Pháp tu cố chấp vào thầy cố chấp vào hình tướng cố chấp vào điều mình cho là đúng, khi tâm đã chấp thì cửa giải thoát khép lại. Thầy Chí Minh chấp tay thưa, bạch Bồ Tát làm sao biết được mình tinh tấn hay đã trở nên cố chấp?
Ngài mỉm cười rất dễ phân biệt, tinh tấn khiến tâm con nhẹ còn cố chấp khiến tâm con nặng, tinh tấn giúp con mở lòng thương người hơn còn cố chấp khiến con thu hẹp lại dễ sân hận dễ phán xét, nếu con càng tu mà càng thấy khó chịu với ai khác mình thì con đang đi ngược chiều rồi. Nghe đến đây thầy Chí Minh cúi đầu lòng thắt lại, thầy nhớ có những lúc trong chùa thấy đồng tu tụng kinh theo cách khác thầy đã khởi niệm sao họ không đúng Pháp.
Hóa ra ngay đó là chấp, cái chấp ấy nhỏ như hạt bụi nhưng nếu không nhận ra nó sẽ thành tảng đá chặn đường. Bồ Tát đưa tay chỉ xa xa, trước mặt hiện ra hình ảnh một vị tăng đang ngồi thiền trên tảng đá, thân ngay thẳng hơi thở nhẹ nhàng nhưng rồi ánh sáng quanh ông dần tối lại thân ông hóa thành tượng đá bất động. Bồ Tát nói, vị tăng này kiếp trước là người rất tinh tấn ông ngồi thiền 40 năm không rời chỗ ăn một bữa ngủ một giờ tâm niệm kiên định ai khuyên cũng không nghe, cuối cùng vì chấp vào hình tướng tu hành ông tưởng mình chứng tâm dính vào cảnh định không thoát được, thần thức ông hóa đá nơi đó ngàn năm không rời đến khi duyên hết mới được sinh lại làm người.
Hòa thượng Tuệ Giác rùng mình hỏi, bạch Bồ Tát chẳng phải kiên định như vậy là đáng khen sao, sao lại thành chướng? Ngài nói, kiên định mà có trí thì là định còn kiên định mà không trí thì là si, si định và chánh định khác nhau ở một niệm thấy rõ vô ngã, tu mà không biết buông là giam mình trong vỏ ốc tự tôn. Thưa quý vị, nghe đến đây chúng ta thấy rõ tu không phải để làm nhiều mà là để thấy rõ, cái thấy sai thì tu càng nhiều càng xa đạo cũng như người đi lạc mà chạy nhanh càng chạy càng lạc.
Bồ Tát lại chỉ tiếp một cảnh khác, có một vị ni sư ngày nào cũng niệm Phật tụng kinh nhưng khi thấy ai hành trì khác mình liền phê phán cho rằng họ sai ta đúng, sau khi mất á bà sinh làm loài chim sáo suốt ngày hót A Di Đà A Di Đà không ngừng. Bồ Tát nói đó là nghiệp chấp Pháp, niệm Phật mà không hiểu nghĩa nhất tâm chỉ bám lấy âm thanh thì Phật hiệu thành nghiệp thức, chấp danh mà quên tâm chấp pháp mà mất đạo ấy là lỗi của người tu không khéo.
Quý vị thấy đó, tu hành là đường giữa không nghiêng bên si không ngã bên chấp, Phật Pháp như con thuyền qua sông nếu ta nắm chặt chiếc thuyền mà không chịu rời thì cũng chẳng bao giờ sang được bờ bên kia, khi đến bờ giải thoát rồi còn ôm lấy Pháp tu thì Pháp ấy trở thành sợi dây trói. Bồ Tát nhìn hai thầy trò giọng ngài dịu lại, tinh tấn chân thật là tinh tấn trong buông bỏ không phải trong cố giữ, làm hết lòng nhưng không bám kết quả hành trì miên mật nhưng không chấp Pháp đó là tinh tấn của bậc trí, còn tinh tấn mà thấy ai khác mình á thì khởi tâm chê đó là tinh tấn của phàm phu.
Thưa quý vị, cái nguy của người tu là chấp cái đúng của mình, Phật dạy người chấp vào đúng của mình thì đã sai vì sao? Vì cái đúng ấy chỉ đúng trong một cảnh duyên nhất định, khi duyên đổi cái đúng kia cũng đổi, chấp nó là sai giống như người trèo núi thấy đỉnh trước mắt tưởng là tột cùng nhưng lên tới nơi mới biết còn ngọn khắc cao hơn, người tu chấp Pháp cũng như dừng lại giữa đường mà cho rằng đã đến niết bàn.
Bồ Tát nói tiếp, cố chấp sinh ra phân biệt phân biệt sinh ra sân hận sân hận sinh ra nghiệp chướng, cho nên người tu càng siêng mà càng nóng nảy càng cực đoan càng phán xét thì biết rằng mình đang đi vào lỗi thứ hai này. Nghe đến đây hòa thượng Tuệ Giác rơi nước mắt bạch Bồ Tát, vậy con nên hành thế nào để tinh tấn mà không cố chấp? Ngài đáp hãy tu bằng tâm mềm, mềm không phải yếu mà là biết thuận theo nhân duyên, tâm mềm thì nước chảy đâu cũng trong tâm cứng thì sống nổi nước đục, khi thấy người khác tu khác mình hãy nghĩ rằng họ cũng đang đi về nguồn chỉ khác đường tâm như vậy gọi là bình đẳng trí, có bình đẳng trí thì tinh tấn sẽ trở thành đạo lực.
Thưa quý vị thật sâu sắc thay, tu hành mà không biết điều hòa tâm mình thì dễ đi từ đạo sang đấu từ tinh tấn chuyển sang cố chấp chỉ trong một niệm, cho nên người tu phải thường soi tôi làm việc này để giải thoát hay để chứng minh tôi đúng, nếu câu trả lời nghiêng về cái tôi thì dù mình có niệm Phật cả đời cũng vẫn là cố chấp. Phật dạy tu mà không phá ngã tu đó là vô ích, ngã chấp chính là gốc của cố chấp. Người tinh tấn thật sự khi nghe lời nghịch cũng cười, khi thấy người khác hơn mình cũng mừng, khi bị chỉ lỗi cũng cảm ơn.
Còn người cố chấp chỉ cần ai nói trái ý liền nổi sân tâm ấy dù khoác áo Phật vẫn là phàm phu. Cuối cùng Bồ Tát kết lại, người tinh tấn thật sự là người hòa tan mình trong đạo không còn ta tu, chỉ còn đạo tu như nước đổ vào biển không còn tên riêng chỉ còn vị mặn, khi nào con thấy mình và chúng sanh không khác thì con mới thật sự tinh tấn. Thưa quý vị bài học thứ hai này thật đáng suy ngẫm, nhiều người tưởng tinh tấn là làm nhiều giữ khổ hạnh niệm nhiều ngồi thiền lâu, nhưng tinh tấn thật là tu mà không chấp hành mà không dính biết dừng khi tâm cứng biết buông khi tâm nặng. Cho nên thầy thường nói cái khó không phải là làm mà là dừng, cái khó không phải là giữ mà là buông, buông mà không bỏ giữ mà không chấp đó mới là tinh tấn giữa trung đạo.
Bồ Tát Địa Tạng giảng về lỗi lầm thứ ba của người tu hành, giữ giới mà lại phá giới. Nghe thì nghịch lý vì ai cũng nghĩ giữ giới là gốc của đạo là nền tảng của giải thoát, nhưng trong lời dạy của Phật giữ giới mà không hiểu tâm giới thì chỉ là rào bên ngoài mà không chặn được dòng nghiệp bên trong, cái giới không nằm ở hình thức mà nằm ở tâm thanh tịnh. Khi Bồ Tát nói đến điều này trong hang tỏa ánh sáng dịu mờ, hai thầy trò chắp tay cung kính lòng rung nhẹ như trước một điều bí mật lớn.
Ngài nói giới là tường rào giữ cho tâm không phóng dật, nhưng khi con bám vào giới xem giới là công đức xem mình là người giữ giới giỏi, khinh người khác là kẻ phạm giới thì ngay giây phút đó con đã phá giới rồi, vì tâm kiêu mạng là gốc của mọi giới trọng. Nghe đến đây thầy Chí Minh khẽ rùng mình, thầy nhớ lại có lần trong chùa thấy một vị đồng tu vô tình làm rơi bát cơm mà không nhặt lên, thầy liền nghĩ trong lòng người đó tu ẩu không có ai nghi, nay nghe lời Bồ Tát thầy chợt hiểu chính cái niệm chê bai ấy đã là phá giới vì nó làm rạn nứt lòng từ.
Bồ Tát nhìn hai người giọng ngài trầm ấm mà sắc như gươm trí tuệ, giới không phải để phân biệt người đúng sai mà để tự giữ mình khỏi vọng động, giới như tấm gương soi không phải để soi người mà để soi chính tâm mình, nếu con dùng giới để nhìn lỗi người thì con đã đem gương ra ngoài còn mình lại ở trong bóng tối. Thưa quý vị, nghe lời ấy ta mới thấy giữ giới không dễ, có người giữ giới mà vẫn đầy sân hận có người ăn chay mà lòng chẳng hiền có người tụng giới mỗi tháng mà vẫn nói lời thị phi, đó là giữ giới thân mà không giữ giới tâm.
Phật trọng tâm giới hơn tướng giới vì chính tâm tạo nghiệp chứ không phải hình tướng. Bồ Tát kể một câu chuyện, có một vị tỳ kheo giới hạnh tinh nghiêm ba y một bát không màng danh lợi được cả tăng chúng tôn kính, nhưng khi thấy một chú tiểu phạm lỗi nhỏ vị ấy liền quở trách nặng lời nói rằng ta giữ giới 40 năm chưa từng phạm ngươi thật đáng hổ thẹn, khi lâm chung vị ấy thấy mình bị trói trong sợi dây sáng thần thức không siêu thoát vì chấp công giữ giới mà sinh tâm ngã mạn, sau cùng ông sinh lại làm người nhưng tâm lúc nào cũng sợ dơ sợ lỗi sợ người khác chạm đến, đó là di chứng của chấp giới.
Bồ Tát nói, người phá giới vì buông lung dễ cứu người chấp giới vì ngã mạn khó độ vì sao? Vì người buông lung biết mình sai còn người chấp giới tưởng mình đúng. Hòa thượng Tuệ Giác chấp tay thưa, bạch Bồ Tát vậy làm sao giữ giới đúng Pháp? Ngài mỉm cười, giữ giới đúng là giữ bằng tâm tỉnh thức không phải bằng sợ hãi, giới không phải gông cùm mà là con đường tự do khi con giữ giới bằng tâm vui tâm thương tâm biết ơn thì giới ấy mở ra trí tuệ, còn giữ giới bằng sợ phạt sợ tội thì giới ấy trói buộc con trong luân hồi.
Thưa quý vị, đó là điểm khác biệt lớn giữa giới của Phật và luật của đời, luật đời ngăn tội bằng hình phạt giới Phật ngăn tội bằng tỉnh thức, giới đời bảo đừng làm điều sai còn giới Phật dạy đừng để tâm sai. Bồ Tát giảng tiếp, có người giữ giới mà tâm lạnh lùng không gần ai sợ bị nhiễm ô, có người giữ giới mà chối bỏ trách nhiệm với đời nói rằng ta tu ta không dính dáng việc thế gian, giữ như thế là chấp tịnh mà chấp tịnh chính là phá giới thanh tịnh.
Phật dạy giữ giới không phải để trốn đời mà là để đi vào đời mà không nhiễm đời, hòa thượng cúi đầu hỏi bạch Bồ Tát có phải giữ giới thật sự là giữ tâm không động giữa mọi cảnh? Ngài gật đầu đúng vậy, khi thấy sắc mà tâm không nhiễm đó là giới, khi nghe tiếng mà không khởi tham đó là giới, khi bị chê bai mà tâm không sân đó là giới, khi làm việc thiện mà không mong báo đó là giới, giới ấy không cần đọc thành văn mà tự hiện trong từng niệm tỉnh.
Ngài dừng lại một lát rồi chỉ ra ngoài hang nơi ánh sáng rọi xuống như tấm gương chiếu vào núi đá, người thật giữ giới tâm sáng như ánh trăng giữa nước phản chiếu mọi hình ảnh mà không dính một bóng nào, còn người chấp giới tâm như mặt nước đóng băng trong nhưng chết. Thưa quý vị, nghe đến đây mà không giật mình sao? Có khi chúng ta rất nghiêm khắc với giới nhưng lòng lại khô, mà Phật dạy giới chính là đất cho tâm từ nở hoa, giữ giới mà mất từ bi thì giới ấy thành đá không nuôi được đạo.
Bồ Tát nói tiếp, người biết giữ giới sẽ thấy thương những ai phạm giới chứ không khinh họ vì người phạm giới đang bị nghiệp dẫn, họ khổ thấy khổ mà không khởi lòng thương là phá giới từ bi. Cho nên giữ giới thật sự là giữ tâm luôn mềm như bùn mà sen vẫn nở, bùn không ghét nước đục chỉ lặng yên mà hóa nó thành trong. Thầy Chí Minh nước mắt lưng tròng cúi đầu lễ Bồ Tát, con hiểu rồi từ nay con nguyện giữ giới bằng lòng thương không bằng sự sợ hãi.
Bồ Tát mỉm cười, lành thay khi nào con thấy người phạm giới mà tâm con không động chỉ khởi bi tâm thì con đã thật giữ giới vì lúc ấy giới của con không còn nằm trên giấy mà nằm trong tim Phật. Thưa quý vị, bài học hôm nay cho ta thấy giữ giới không phải để thành người đạo đức mà để trở về với bản tâm thanh tịnh, giữ giới không phải để được ai khen mà là để mình khỏi khổ, giữ giới không phải là gồng mình làm đúng mà là thức tỉnh để thấy điều đúng đang tự nhiên hiện ra. Phật không bắt ta thành thánh chỉ mong ta đừng lạc khỏi lòng thương, người biết thương thì tự nhiên biết giữ giới. Vì sao? Vì không muốn làm ai đau dù là một con kiến một lời nói hay một niệm sân. Cho nên đức Phật dạy giới như hơi thở, giữ được giới hổng phải vì nhớ mà vì tâm đã hòa vào đạo.
Khi Bồ Tát nói đến lỗi thứ tư trong hang như rung nhẹ, ánh sáng dịu dần chỉ còn lại hơi ấm tỏa ra từ pho tượng ngọc, giọng ngài trầm xuống như vừa cảnh báo vừa xót thương, này các con trong muôn người tu hành lỗi này là sâu nhất và cũng khó chữa nhất vì người ngu dễ tỉnh còn người có chút trí lại khó buông. Thầy Chí Minh nghe mà lòng thắt lại cung kính thưa, bạch Bồ Tát con vẫn tưởng trí huệ là ánh sáng phá vô minh sao lại có thể khiến người ta thêm si mê?
Ngài mỉm cười nhẹ nói, bởi vì trí huệ thật sự đến từ tâm không chấp còn cái mà thế gian gọi là trí thường đến từ tâm phân biệt, phân biệt càng nhiều chấp ngã càng lớn khi con tưởng mình biết chính là lúc con xa sự thật. Thưa quý vị, đó là căn bệnh chung của người tu học ngày nay, đọc nhiều kinh học nhiều Pháp nhưng tâm càng đầy kiến thức thì càng ít khiêm cung, biết được vài lý cao liền cho rằng mình hơn người xem thường kẻ sơ cơ, cái biết ấy không mở ra trí mà đóng lại cửa khiêm nhường.
Bồ Tát giảng rằng có người học thiền được chút định thấy cảnh giới lạ liền nghĩ mình chứng ngộ, có người học kinh nhớ được vài đoạn liền tranh cãi ai đúng ai sai, có người hiểu vài tầng nhân quả liền xem mình như thầy thiên hạ, đó đều là trí huệ sinh từ ngã mạn mà ngã mạn là gốc của si mê. Ngài chỉ tay ra ngoài nơi ánh sáng chiếu xuống mặt đất thành bốn tia như bốn con đường, trí huệ của Phật là ánh sáng chiếu soi cả ta và người còn trí huệ của phàm phu là ánh sáng chỉ rọi lên cái bóng của chính mình.
Nghe đến đây thầy Tuệ Giác nước mắt rưng rưng cúi đầu thưa, bạch Bồ Tát con tu đã mấy chục năm đọc nhiều kinh điển nhưng giờ nghe lời ngài mới thấy mình biết mà không hiểu, hiểu mà chưa thấm. Bồ Tát gật đầu, cái hiểu trong kinh chỉ là ngón tay chỉ trăng thấy ngón tay mà tưởng là trăng thì mãi mãi chẳng thấy được bầu trời, trí huệ không nằm trong chữ mà nằm trong sự tỉnh thức không còn bản ngã. Thưa quý vị, người tu học mà không phá được ngã chẳng khác nào rót nước vào chén úp, có giảng cả ngàn Pháp thoại mà tâm vẫn đầy ta biết ta đúng thì chỉ đang gieo thêm hạt giống si mê trong áo tràng của mình, có khi càng tụng kinh lại càng sinh chấp càng tọa thiền lại càng tự mãn vì thấy mình cao hơn hiểu sâu hơn.
Nhưng Phật nói, kẻ ngu chấp biết người trí chấp không, khi tâm muốn chứng muốn hơn muốn được công nhận chính lúc ấy huệ đã thành mồi lửa cho si mê. Bồ Tát kể lại một câu chuyện thật cảm động, ngày xưa có một vị tăng trẻ học kinh bát nhã chỉ vài năm đã giảng thông suốt ai nghe cũng kính nể, một hôm vị ấy mộng thấy chư Phật hiện ra bảo rằng ngươi đã biết bát nhã nhưng chưa sống với bát nhã. Hỏi vì sao? Phật nói vì ngươi còn dùng bát nhã để phân biệt ai mê ai ngộ.
Tỉnh dậy vị ấy khóc bỏ giảng đường về quét lá trong chùa suốt 20 năm không nói một lời Pháp nào nữa đến ngày viên tịch chỉ nói một câu, tất cả kinh ta từng giảng hôm nay đều nằm trong một hơi thở biết mình đang thở, đó chính là trí huệ không lời. Thưa quý vị trí huệ của kẻ buông hết mọi chấp trước. Bồ Tát dạy thêm, tu huệ thật sự là tu để không còn thấy có ai tu, khi tâm không thấy mình là người tu, không thấy Pháp là Pháp, không thấy người khác sai hay đúng lúc ấy mới thật là huệ. Còn khi con thấy mình đang tu đang hiểu thì con vẫn còn trong si mê.
Ngài dừng lại nhìn hai thầy trò ánh mắt hiền từ mà sắc bén, này các con có người học thiền mà sinh tâm cao ngạo, có người học mật mà xem thường người niệm Phật, có người học tịnh mà bài bác thiền đó đều là si mê của người mang áo trí huệ, trí huệ mà chia rẽ pháp môn thì không còn là huệ Phật mà là huệ ma. Thưa quý vị, trong đạo Phật trí huệ không nằm ở lời nói mà ở tâm bình đẳng, tâm càng phân biệt trí càng mờ.
Người thật có huệ khi nghe Pháp liền thấy mình nhỏ bé thấy người khác cũng là Phật đang hiện thân, còn người thiếu huệ càng nghe Pháp càng muốn chỉ lỗi người càng muốn dạy đời. Bồ Tát nói tiếp giọng ngài như gió lành, trí huệ không phải để thắng ai mà để thắng chính mình, không phải để soi lỗi người mà để soi bóng mình trong gương nhân quả, khi huệ thật sinh tâm sẽ càng khiêm lời càng ít mắt càng thương.
Ngài quay sang nhìn thầy Chí Minh, con thấy chăng trí huệ giống như ngọn đèn nếu đặt giữa căn phòng tối nó chiếu sáng tất cả, nhưng nếu con cầm đèn soi vào mặt mình con chỉ thấy ánh lóa mà không thấy ai khác, nhiều người tu học cầm đèn soi chính mình suốt đời mà không soi được đường đi. Thưa quý vị, nghe lời ấy ta mới hiểu tu huệ không phải là học cho nhiều mà là bỏ đi những gì không thật, huệ không phải là thêm kiến thức mà là bớt chấp trước, huệ không phải là cái thấy hơn người mà là cái thấy tất cả đều là Phật đang trên đường về.
Nếu một người học đạo mà càng học càng kiêu càng hiểu càng tranh càng biết càng xa thì đó là trí huệ giả như Bồ Tát nói, huệ sinh từ ngã chỉ làm tăng thêm si mê. Ngược lại người càng tu càng mềm, càng học càng thấy mình nhỏ, càng nghe Pháp càng rơi nước mắt vì thấy chúng sanh nào cũng đang khổ mà vẫn chưa giác ngộ đó mới là trí huệ thật. Cuối cùng Bồ Tát dạy một câu khiến hai thầy trò suốt đời khắc cốt ghi tâm, trí huệ thật không phải để biết mà để thương.
Thầy Tuệ Giác và Chí Minh cúi đầu đảnh lễ nước mắt tuôn rơi, họ hiểu rằng tu không phải để trở thành người thông hiểu mà là để trở về làm người biết cảm thông, từ giây phút ấy họ nguyện sống khiêm cung tu trong lặng lẽ giúp người trong âm thầm vì trí huệ thật luôn tỏa sáng mà không cần phô bày, A Di Đà Phật. Thưa quý vị, bài học hôm nay dạy ta rằng càng biết càng phải khiêm, càng học càng phải lắng, huệ thật là ánh sáng chiếu soi không phải ánh đèn rọi vào người khác.
Người tu không sợ thiếu hiểu biết chỉ sợ cái biết khiến mình mất lòng thương, bởi vì si mê không nằm ở không biết mà nằm ở tưởng rằng mình biết. Nguyện cầu quý Phật tử trên đường tu học mỗi khi tâm muốn hơn người hãy dừng lại. Sau khi nghe xong bốn lỗi lầm vi tế mà người tu hành dễ vấp phải, làm lành mà tạo nghiệp tinh tấn mà thụt lùi giữ giới mà phá giới tu huệ mà tăng si mê. Hai thầy trò vẫn còn quỳ yên dưới chân Bồ Tát nước mắt rơi trên nền đá lạnh, họ cảm nhận rõ ràng rằng điều đáng sợ nhất trong tu hành không phải là sai mà là sai trong lúc tưởng mình đang đúng.
Bồ Tát nhìn họ ánh mắt vừa nghiêm vừa hiền, giọng ngài vang trong hang động như một lời ru tỉnh thức, các con thấy rồi đó người đời phạm lỗi dễ tỉnh còn người tu phạm lỗi khó tỉnh hơn vì khi tâm đã khoác áo đạo đức mà vẫn còn ngã mạn thì cái ngã ấy không còn là phàm phu mà là ngã của người mang hình tướng giải thoát, nó nguy hiểm hơn gấp trăm lần. Ngài dừng lại rồi nói tiếp, tu hành không phải để trở thành một ai mà là để buông bỏ hết mọi ai, không phải để làm thánh mà là để thấy mình vẫn đang là chúng sanh.
Khi con còn thấy có người cần độ, có mình đang độ thì con vẫn chưa phải là bậc giác. Thưa quý vị, nghe đến đây mà lòng ai chẳng chùng xuống, bao nhiêu năm công phu nếu không tỉnh thức soi lại có khi ta đang đi lùi mà không hay, có khi ta đã xây một cái ngôi tháp kiên cố của bản ngã gọi đó là đạo tâm mà thật ra chỉ là cái tôi đội mũ từ bi. Bồ Tát lại dạy, người tu chân thật không cần nói mình tu không cần cho ai biết mình giữ giới không cần chứng minh mình có huệ.
Vì cái tu thật nằm trong tâm biết mình đang khởi niệm gì, mỗi khi con thấy trong lòng mình có một chút tham một chút sân hay một chút muốn hơn người mà con biết chỉ cần biết thôi thì ngay khoảnh khắc ấy con đang tu. Ngài dừng lại rồi từ bi nói thêm, tu không phải là dập tắt phiền não mà là biết phiền não mà không chạy theo, giữ giới không phải để khỏi phạm mà để thấy mình đang phạm mà biết quay lại, tu huệ không phải để hiểu hết mọi Pháp mà để thấy rõ chính tâm mình còn mê ở chỗ nào, khi con thấy rõ con đã thoát một phần.
Hòa thượng Tuệ Giác chắp tay lệ rơi, bạch Bồ Tát chúng con tu hành mấy chục năm mà nay mới thật sự thấy mình chưa bắt đầu, con từng tự hào mình hiểu đạo mà giờ thấy cái hiểu ấy chỉ là khói sương. Bồ Tát mỉm cười, ngộ được chỗ đó là bước đầu của khiêm cung, chỉ người thật sự biết mình sai mới thật sự bước vào cửa đạo. Ngài lại nói, trên con đường tu đừng mong làm bậc thánh mà hãy nguyện làm người biết thương nhiều hơn hôm qua.
Khi con thấy một con kiến bị nước cuốn mà lòng con động, khi thấy một người mắng mình mà con không sân, khi thấy một người lầm đường mà con khởi tâm thương thì dù con chưa chứng quả tâm con đã gần Phật. Thưa quý vị, nghe lời ấy ta mới hiểu tu hành không nằm ở thần thông không nằm ở tụng niệm mà nằm ở một niệm từ bi đang hiện hữu, công phu không ở chỗ ta tụng bao nhiêu thời kinh mà ở chỗ ta biết thương bao nhiêu lần trong một ngày.
Bồ Tát nói tiếp, các con đừng sợ sai chỉ sợ không chịu nhìn lại, đừng sợ thất bại chỉ sợ cố chấp cái thắng, phàm phu biết mình phàm phu là bước đầu thành thánh còn người tu mà tưởng mình thánh chính là bước đầu của địa ngục. Khi nghe đến đây cả hai thầy trò đều cúi đầu đảnh lễ nước mắt thấm ướt đất. Bồ Tát giơ tay phải ánh sáng từ lòng bàn tay tỏa ra bao trùm không gian tĩnh lặng, từ nay các con hãy đem những gì đã thấy đã nghe mà sống chứ đừng vội truyền. Pháp không cần rao giảng chỉ cần thể hiện trong từng hành động, khi con nhìn ai bằng lòng thương thì Pháp đang giảng khi con yên lặng mà tâm vẫn an thì Pháp đang thuyết.
Ngài nói nếu muốn độ người trước hết phải độ tâm mình, tâm mình chưa sạch lời nói cũng chỉ như mây trôi, tâm mình an dù yên lặng cũng là kinh, tâm mình sáng dù không tụng vẫn là chú. Đó là lời cuối cùng của Bồ Tát trong lần hiển hiện ấy, rồi ngài nhìn họ ân cần các con hãy trở về sống giữa đời bằng tâm biết ơn khiêm hạ và sáng suốt, nếu gặp ai đang lầm đường đừng chê họ mê hãy nhớ rằng chính nhờ mê mà ta mới có cơ hội tỉnh.
Ngay khi lời dứt ánh sáng trong hang tỏa rực, hai thầy trò cảm thấy thân thể nhẹ bẩn như đang trôi giữa hư không, khi mở mắt họ thấy mình vẫn đang quỳ dưới pho tượng ngọc của Địa Tạng, tất cả y như một giấc mộng nhưng trong lòng thì biết rằng mình vừa thật sự được khai ngộ. Từ đó họ trở về chùa tu hành khiêm tốn, mỗi ngày chỉ lặng lẽ quét sân tụng kinh niệm Phật hồi hướng cho các loài súc sanh quanh chùa, những con vật từng quanh quẩn bên điện Phật dường như dần dần hiền lại không còn sợ hãi, trong ánh mắt của chúng có thêm chút bình an như thể linh tánh cũ đang được gội rửa.
Dân quanh vùng kể rằng mỗi chiều nghe tiếng chuông chùa Từ Ân vang vọng giữa núi Trung Nam, người ta thấy những đàn chim khỉ rắn đều tụ về quanh sân chùa ngồi yên như đang nghe Pháp, ai chứng kiến cũng rơi nước mắt. Thưa quý vị, đến đây ta mới hiểu lời Phật dạy trong kinh Địa Tạng người tu nhiều vô số nhưng người đắc đạo hiếm hoi, vì lạc trong chính cái tâm tự cho mình đã tỉnh cho nên tu hành không phải để thêm một danh xưng mà để bớt đi một bản ngã, không phải để có nhiều tri thức mà để bớt đi một chút khổ đau, không phải để thành Phật ngày mai mà để sống như một người biết thương ngay hôm nay.
Bồ Tát Địa Tạng dạy rằng người nào tu mà lòng còn thấy có ta và người, tu và không tu đúng và sai thì chưa thật tu. Khi con chỉ còn thấy tất cả đều là một dòng khổ đang chảy và khởi lên lòng thương thì con đã đến gần niết bàn, A Di Đà Phật. Đó là chỗ mà Phật Pháp muốn đưa ta đến, tỉnh thức giữa đời thương trong vô ngã, khi nghe Pháp mà lòng mình mềm lại nước mắt rơi xuống đó không phải là yếu đuối mà là hạt mầm giác ngộ đang nảy nở.
Thưa quý vị bốn lỗi lầm vi tế trong tu hành mà Bồ Tát Địa Tạng chỉ ra không chỉ là lời cảnh tỉnh cho hai thầy trò năm xưa mà còn là tấm gương cho chúng ta ngày nay, bởi lẽ dù thời đại có thay đổi thì tham sân si mạn nghi vẫn ẩn trong từng hơi thở và chỉ có tâm biết soi lại chính mình mới có thể đưa ta ra khỏi luân hồi. Cầu mong cho mỗi người nghe Pháp hôm nay biết soi tâm mỗi khi làm điều thiện, biết giữ lòng khi thấy mình tinh tấn, biết mềm xuống khi người khác phạm giới và biết cười khi có ai khen mình có trí huệ.
Vì khi đó ta đang đi trên con đường của những người thật sự tu, nguyện chư Phật chư Bồ Tát gia hộ cho tất cả chúng ta trên con đường tu tập đều đủ tỉnh đủ bi đủ khiêm đủ thật để không lạc vào cạm bẫy của chính cái ta đang tu, A Di Đà Phật. Thưa quý vị, cuộc đời tu học chẳng khác chi con thuyền giữa biển lớn, có khi sóng nổi có khi gió yên nhưng chỉ cần ta giữ được tâm sáng và lòng mềm thì chiếc thuyền ấy vẫn sẽ cập bến bờ an lạc.
Bốn điều cấm kỵ mà Bồ Tát Địa Tạng dạy không để dọa ai mà để nhắc chúng ta biết soi lại mình, khi làm thiện có trong sạch không, khi tinh tấn có chấp không, khi giữ giới có từ không, khi có chút hiểu biết có còn khiêm hạ không. Nguyện cho mỗi người trên đường tu luôn biết lắng nghe trái tim Phật trong chính mình, sống một đời bình dị tỉnh thức và đầy thương yêu, A Di Đà Phật.
Video gốc người tu dễ đọa súc sanh dài 52 phút đăng trên kênh youtube Hãy Nghe Pháp, định dạng mp4 được tạo bởi Hãy Nghe Pháp.
Đồng đạo tự tải hoặc chọn hai dạng khác Khương Itvtbadboy chuyển đổi phù hợp nhu cầu âm thanh hoặc xem khi rãnh với sổ tay pdf.