Nhân quả nghiệp báo không bỏ sót một ai. Con ơi, đời người tuy ngắn nhưng nghiệp báo thì dài vô lượng. Gieo nhân nào gặt quả nấy không ai thoát được dù con có trốn vào núi sâu hay lên máy bay bay khỏi đất nước này nghiệp vẫn đi theo con.
Nhân quả nghiệp báo không bỏ sót một ai. Con ơi, đời người tuy ngắn nhưng nghiệp báo thì dài vô lượng. Có người sống ác mà thấy họ vẫn giàu vẫn sướng. Có người hiền lành lại khổ triền miên. Vì sao? Vì con chưa nhìn thấy được gốc rễ của nhân quả, nhân quả không sai không trễ không thiên vị nhưng nó đến đúng thời như hoa nở đúng mùa. Gieo nhân nào gặt quả nấy không ai thoát được dù con có trốn vào núi sâu hay lên máy bay bay khỏi đất nước này nghiệp vẫn đi theo con.
Nghiệp là gì? Nghiệp là những gì con làm nói nghĩ lặp đi lặp lại nhiều lần tạo thành một năng lượng một quán tính in dấu trong tàng thức tâm thức sâu kín nhất của con. Con chửi người tạo khẩu nghiệp, con hại người tạo thân nghiệp, con ganh tỵ tham lam sân hận tạo ý nghiệp. Ba nghiệp đó chính là hạt giống gieo xuống ruộng tâm, đến lúc đủ duyên đủ nước đủ gió quả sẽ trổ ra không cần ai trừng phạt con cả, chính nghiệp sẽ dẫn con đi.
Vì sao người ác vẫn sống sướng? Con đừng vội trách tại sao người gian ác vẫn giàu, sao người tốt lại thiệt thòi? Thầy dạy con thế này, có những người ác đang xài phước cũ còn người tốt đang trả nghiệp cũ, khi người ác xài hết phước nghiệp ác mới gieo bây giờ sẽ bắt đầu trổ quả, có người đang ăn sung mặt sướng nhưng đang gieo địa ngục cho đời sau, có người đang chịu khổ sở nhưng đang dọn đường về cảnh lành. Thầy không cần con tin ngay, thầy chỉ mong con quan sát đời bằng đôi mắt tỉnh rồi con sẽ thấy không ai qua được lưới nghiệp.
Vậy phải làm gì để giải nghiệp? Ngưng tạo nghiệp mới, sống chánh niệm không nói lời độc ác dù trong lúc tức giận, không nghĩ điều xấu cho người dù họ có làm tổn thương con, sám hối nghiệp cũ thành tâm lễ Phật nhận lỗi với người mình từng làm tổn thương, hứa với chính mình từ nay không tái phạm, làm nhiều việc lành để bồi phước bố thí cúng dường giúp đỡ người khổ hơn mình dẫn người về với điều thiện. Con đừng chờ khi khổ mới làm việc lành, lúc có phước làm lành càng có lực, lúc khổ làm lành như người chống nạn vẫn tốt nhưng khó đi.
Tâm là gốc nghiệp, tâm sân dễ tạo nghiệp xấu, tâm tham dễ sinh lời nói hại người, tâm si dễ dẫn con làm điều dại dột nên Phật dạy muốn đổi nghiệp phải đổi từ trong tâm không cần lập đàn cúng lễ linh đình, chỉ cần thay tâm là đủ. Từ đó lời nói sẽ khác, việc làm sẽ khác và nghiệp quả cũng đổi theo. Kết lời của thầy: nhân quả không phải để con sợ mà để con biết dừng lại, nghiệp không phải để trốn mà để hiểu và hóa giải bằng chính sự tỉnh thức. Đời người ngắn lắm đừng gieo nữa những điều khiến kiếp sau phải khổ!
Lời nói gieo một câu gặt một đời. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Khi nói về nhân quả chúng ta thường nghĩ đến hành động làm thiện gặp lành làm ác gặp dữ, nhưng ít ai nhận ra rằng lời nói cũng là một hành động tạo nghiệp rất mạnh. Một lời thốt ra như mũi tên rời cung không thể thu lại được, nó có thể làm người ta ấm lòng suốt đời cũng có thể khiến họ đau đến tận kiếp sau. Trong bài pháp hôm nay, thầy xin chia sẻ lời nói gieo một câu gặt một đời.
Dựa theo tinh thần của bài thuyết giảng lời Phật dạy nhân quả qua mười việc nhỏ mỗi ngày. Lời nói là nghiệp tạo mỗi ngày, chúng ta sống giao tiếp sinh hoạt trong đời đều qua lời nói nhưng đa phần ta nói trong vô thức, có người nghĩ nói chơi thôi không sao nhưng Phật dạy khẩu nghiệp là một trong ba nghiệp lớn nhất thân khẩu ý và khẩu thường tạo nhiều nghiệp hơn thân. Một câu nói dối gieo quả mất niềm tin, một câu chửi rủa gieo quả thù oán, một câu dua nịnh gieo quả giả dối luân hồi. Ngược lại, một lời động viên một câu xin lỗi chân thành một lời an ủi là những hạt giống thiện gieo nơi người cũng chính là gieo trong chính mình.
Gieo gì trong lời gặt gì trong đời? Trong cuộc sống có người miệng luôn ngọt ngào nói lời dễ nghe đi đâu cũng được người thương, nhưng cũng có người nói lời sắc như dao nói đâu gây họa đó rồi than rằng sao đời mình toàn gặp thị phi. Người ghét không có gì ngẫu nhiên, tất cả là nhân quả của ngôn ngữ. Người hay nói dối về sau sẽ bị hiểu lầm không ai tin, người hay nói ác thường sống trong môi trường ganh ghét bất an, người hay nói thêu dệt dèm pha tạo nghiệp chia rẽ về sau con cháu khó hòa thuận, người nói lời từ bi gieo duyên lành gặp người yêu thương gia đình hòa thuận xã hội cảm mến.
Đức Phật dạy người nói lời từ ái như gió mát giữa mùa hè, người nói lời độc hại như lửa đốt rừng công đức. Bốn loại khẩu nghiệp thường gặp, Phật dạy có bốn loại lời nói tạo ác nghiệp vọng ngữ nói dối lưỡng thiệt nói hai chiều gây chia rẽ ác khẩu chửi mắng xúc phạm ngữ nói lời vô ích phụ phiếm. Mỗi ngày ta có phạm một trong bốn không? Một lời nói dối để che dấu lỗi nhỏ rồi thành quen, một câu vô tình kể chuyện người này cho người kia rồi gây mâu thuẫn, một lúc nổi nóng chửi con mắng chồng để lại thương tổn, một lúc nhàn rỗi tán gẫu chuyện thiên hạ mất thời gian lây tâm thị phi.
Lời nói vừa là gương vừa là nhân, người khôn không phải là người nói nhiều mà là người biết nói đúng, người đạo đức không phải là người chỉ tụng kinh mà là người nói ra lời không làm ai tổn thương. Lời nói của ta phản chiếu tâm ta tạo nên nhân duyên của ta vẽ nên tương lai của ta. Một đứa trẻ lớn lên trong lời dịu dàng sẽ có trái tim lành, một người già sống trong môi trường bị chửi bới sẽ sinh sân hận, một ngôi chùa ấm là nơi ai đến cũng nghe lời an vui từ tốn. Người sống thiện chưa cần làm gì lớn lao chỉ cần giữ khẩu nghiệp đã là tu.
Thực tập khẩu nghiệp thiện, muốn lời mình không tạo nghiệp thầy khuyên trước khi nói, thở một hơi hỏi câu này nói ra có ít không, khi nổi giận im lặng đừng để lửa tâm thiêu đốt người lẫn mình, tập nói lời cảm ơn xin lỗi hoan hỉ nguyện lành. Mỗi ngày khi không biết nói gì có ích hãy giữ im lặng, im lặng cũng là một dạng từ bi. Người biết nói ít nhưng đúng lúc sẽ tạo được niềm tin, người nói nhiều mà không có chánh niệm dễ rơi vào thị phi tạo khẩu nghiệp.
Kết: một lời là một hạt giống, một câu là một nhân gieo và miệng là ruộng phước hay là nơi gieo nghiệp là do chính mình từ hôm nay. Xin hãy bắt đầu để ý từng lời nói, nói sao cho người nghe không tổn thương mà chính mình cũng nhẹ lòng. nói sao cho dù một câu cũng là một bông sen. Nguyện cho tất cả chúng ta tu tập khẩu nghiệp tinh tấn, nói lời chánh ngữ gieo lời hiền lành để nhân quả thiện lành theo ta qua đời này và cả những đời sau. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của sự lười biếng và thói quen buông xuôi. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong xã hội ngày nay nhiều người than rằng mình không có duyên với thành công, không gặp may mắn không được đời ưu đãi. Nhưng khi nhìn kỹ vào đời sống của họ ta thấy một điều rất rõ, họ không thật sự nỗ lực không siêng năng không kiên trì và đặc biệt họ dễ dàng buông xuôi. Hôm nay thầy xin giảng về một khía cạnh nhân quả ít được chú ý, nhân quả của sự lười biếng và thói quen buông xuôi.
Lười là nghiệp gì? Lười không chỉ là nằm không không làm việc mà còn là nghe Pháp mà không hành, biết sai mà không sửa, biết nên tinh tấn mà cứ chần chừ, đặt mục tiêu nhưng không chịu bước đi. Lười là một loại nghiệp ngầm khiến con người ngày càng yếu về tinh thần cạn về ý chí nghèo về công đức và nặng về khổ đau. Đức Phật dạy người lười biếng như cây khô không rễ chẳng sinh hoa trái, người tinh tấn như hạt giống được tưới sớm muộn sẽ nở hoa.
Nhân quả của sự lười biếng, người lười biếng thường chịu những quả báo đời sống nghèo khó bấp bênh dễ sinh tâm đố kỵ với người thành công, không có phước vì không chịu tạo công đức, không được người kính trọng vì thiếu tinh thần trách nhiệm. Người không chịu tu tập dù có duyên gặp Phật Pháp cũng không mở ra được trí tuệ, dù biết nhân quả vẫn sống buông thả, dù có kiếp người quý báu vẫn đánh mất cơ hội giác ngộ.
Buông xuôi là gì? Buông xuôi là gặp khó là bỏ, vấp ngã là chán, bị từ chối là tự thương thân, gặp nghiệp xấu là than trời không chịu chuyển hóa. Buông xuôi không phải là buông xả, buông xả là có trí tuệ biết điều gì nên nắm điều gì nên buông, còn buông xuôi là bỏ mặt đầu hàng sống không định hướng. Người buông xuôi dễ sinh tâm thụ động ỷ lại bi quan, đó là một vòng lập nghiệp lực, càng buông xuôi càng mất năng lượng càng mất năng lượng càng chìm sâu vào khổ.
Tại sao lười lại tạo nghiệp? Vì đời sống là một chuỗi nhân quả, không có nhân tinh tấn sẽ không có quả thành tựu, không có nhân hành động sẽ không có quả chuyển hóa. Người lười biếng giống như ruộng không gieo qua thời gian đất sẽ chai, người không siêng năng giống như thân không vận động dần dần sẽ yếu sẽ mòn sẽ rỗng. Phật dạy người sống một ngày có tỉnh thức giá trị hơn sống trăm năm trong lười biếng.
Một câu chuyện có thật, có một cư sĩ từng đến chùa nghe Pháp rất hoan hỉ phát nguyện tu tập nhưng khi về nhà lại không tụng kinh không niệm Phật không giữ giới, mỗi lần gặp thầy lại nói con bận quá con yếu quá con sẽ cố từ từ. Năm năm sau ông bị tai biến, trên giường bệnh ông khóc giờ con mới thấy lúc khỏe không tu khi bệnh chỉ còn biết tiếc. Thầy nắm tay ông nói nhẹ, không ai trách con nhưng chính con đã bỏ qua năm năm trời để gieo phước mà không làm, giờ thân bệnh tâm con hãy khởi tinh tấn từng câu niệm Phật vẫn còn kịp.
Làm sao chuyển hóa nghiệp lười? Nhận diện rõ thói quen trì hoãn chần chừ, tập thiết lập mục tiêu nhỏ vừa sức mỗi ngày hành động ngay khi có ý nghĩ thiện, giao hẹn với chính mình mỗi ngày làm một việc có ích đọc sách nghe pháp gần gũi thiện tri thức để tăng năng lượng tu học. Siêng năng là con đường của phước, người tinh tấn là người không đợi đủ điều kiện mới bắt đầu, không đợi yên mới ngồi thiền, không đợi già mới tụng kinh, không đợi rảnh mới học Phật. Người tinh tấn thân sáng tâm sáng gieo nhân lành mỗi ngày vượt qua nghiệp xấu từ từ nhưng vững chắc. Đức Phật thành đạo không phải nhờ may mắn mà nhờ tinh tấn không ngừng nghĩ suốt nhiều đời nhiều kiếp.
Kết: lười biếng không chỉ khiến ta chậm lại mà còn kéo ta xa khỏi con đường giác ngộ, buông xuôi không chỉ mất cơ hội mà còn dẫn ta đi ngược lại với nhân quả. Từ hôm nay hãy tỉnh thức, thấy lùi hãy đứng lên, thấy chán hãy hành động, thấy muốn bỏ hãy niệm Phật một câu. Chỉ cần một chút siêng năng mỗi ngày như giọt nước nhỏ lâu ngày cũng đầy bình thì con sẽ thấy đời mình thay đổi. Nguyện cho quý Phật tử luôn tinh tấn dũng mãnh, không buông xuôi trước nghịch cảnh, không chần chừ trước điều thiện và không trì hoảng trước một cuộc đời đáng sống. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của sự keo kiệt và lòng tham không đáy. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong ba độc gốc rễ của mọi khổ đau mà đức Phật chỉ dạy tham sân si thì tham luôn là khởi điểm đầu tiên, từ tham mà sinh giận, từ tham mà che mờ trí tuệ, từ tham mà đưa con người từ phước đến họa từ an lạc đến đọa đày. Hôm nay thầy xin giảng pháp thoại thứ ba trong loạt bài về nhân quả với chủ đề nhân quả của sự keo kiệt và lòng tham không đáy.
Tham là gì? Tham không chỉ là ham tiền ham của mà còn là tham danh tham lời khen tham địa vị tham sắc dục tham sự kiểm soát người khác, tham là muốn có rồi giữ rồi chiếm không cần biết đúng hay sai hợp lý hay không vừa đủ hay quá mức. Người tham thì luôn thấy thiếu không biết dừng, có một muốn hai có hai lại so với người có ba, đó là một cái giếng không đáy càng múc càng khô càng chứa càng khát. Keo kiệt là gì? Keo kiệt là khi có nhưng không cho thậm chí không cho cả bản thân, có tiền mà không dám mua thuốc cho mẹ, có cơm mà không dám chia cho người đói, có sức mà không chịu giúp ai, có kiến thức mà giấu sợ người hơn mình. Người keo kiệt sống trong tâm thức sợ mất sợ thiếu sợ nghèo, nhưng thật ra người không biết cho đi mới thật sự nghèo.
Nhân quả của lòng tham, người tham tiền dễ bị lừa đảo mất mát lớn vì tâm tham khiến mất cảnh giác, người tham sắc dễ bị đọa lạc vào nghiệp tà dâm gia đình tan vỡ, người tham danh dễ bị thị phi tranh giành tổn phước hao khí, người tham ăn dễ bệnh tật thân thể nặng nề tuổi thọ giảm, người càng tham càng dễ gieo ác nghiệp vì để đạt được điều mình muốn họ có thể nói dối hại người giành giật tranh đoạt và tất cả những hành động đó đều là nhân của khổ, nhân quả của sự keo kiệt.
Người keo kiệt trong đời này đời sau sẽ nghèo hèn thiếu phước, người không dám cho cha mẹ sau này con cháu cũng không hiếu thuận, người thấy ai nghèo cũng khinh không chia sẻ sau này thường rơi vào hoàn cảnh cô độc. Đức Phật dạy người giàu mà không biết bố thí chẳng khác gì ăn cấp của đời trước rồi giữ khư khư, người biết bố thí dù nghèo cũng có phước, người không biết sang sẻ dù giàu cũng mang nghiệp thiếu.
Một câu chuyện thật, có một người đàn ông làm ăn giàu có, tiền bạc dư giả nhưng sống cực kỳ keo kiệt, mẹ bệnh không cho tiền chữa, vợ con sống thiếu thốn, hàng xóm ghét nhân viên sợ. Một hôm ông bị đột quỵ nằm trên giường bệnh không ai chăm, con cái lạnh nhạt bạn bè không ai đến. Lúc hấp hối, ông thều thào với người giúp việc, tôi có tất cả mà giờ không ai thương, tôi sống sai rồi. Người giúp việc chỉ đáp ông đâu có nghèo vì tiền, ông nghèo vì chưa từng biết cho đi. Ông nhắm mắt nước mắt rơi. Đó là cái kết của một đời gom thật nhiều nhưng không biết buông.
Làm sao chuyển hóa nghiệp tham và tâm keo kiệt? Mỗi ngày thực tập bố thí một điều nhỏ một bát cơm một lời khen một nụ cười, khi thấy người có hơn đừng ganh hãy hoan hỉ chúc phúc, tập dùng tiền đúng cách chia phần làm phước phần dưỡng thân phần tiết kiệm, quán vô thường tiền không mang theo khi chết nhưng nghiệp lành thì đi theo ta muôn đời. Buông tham tâm an, người biết đủ là người giàu thật sự, người biết chia là người có phước thật sự. Khi con biết buông tâm tham con sẽ thấy mình nhẹ hơn, mối quan hệ tốt hơn, đêm ngủ yên lòng không bị xáo động bởi cái có. hoặc cái mất.
Kết: tham và keo kiệt đều là gốc của khổ nhưng cũng đều là thứ có thể chuyển hóa nếu ta tỉnh thức từ hôm nay. Hãy tập cho đi nhiều hơn một chút, muốn ít hơn một chút, hài lòng hơn một chút. Mỗi ngày như vậy ta đang bước ra khỏi lối mòn nhân quả của tham ái và bước vào con đường của phước đức an lạc và tự do nội tâm. Nguyện cho tất cả quý Phật tử buông được tâm tham, mở lòng bố thí sống đời biết đủ nhẹ nhàng và hạnh phúc từ trong tâm. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của việc nuôi dưỡng lòng biết ơn. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Giữa cuộc sống hối hả nhiều người quên mất một điều rất căn bản nhưng sâu xa trong giáo lý đạo Phật đó là biết ơn. Người không biết ơn dễ sinh ngạo mạn, dễ vô tình với người đã giúp mình, dễ quên cội nguồn, dễ rơi vào nghiệp vô tri. Ngược lại, người biết ơn là người đang gieo những hạt giống phước đức bền lâu trong đời này và cả nhiều đời sau. Hôm nay thầy xin chia sẻ với quý Phật tử về chủ đề thứ sáu trong loạt bài nhân quả, nhân quả của việc nuôi dưỡng lòng biết ơn.
Biết ơn là gốc của mọi điều thiện. Trong kinh Tăng Chi, đức Phật dạy người biết ơn và biết báo ơn là người hiếm có trên đời. Biết ơn không phải là lời nói đầu môi mà là nhớ ơn cha mẹ tổ tiên, nhớ ơn thầy tổ người đã dạy dỗ mình, nhớ ơn người từng giúp mình qua lúc khốn khó, nhớ ơn quê hương đất nước Tam Bảo, nhớ ơn người nấu cơm quét nhà chở mình trên chuyến xe. Người biết ơn là người thấy mình không tự có không tự giỏi không tự mạnh mà tất cả đều nhờ vào nhân duyên vào cộng đồng vào ân nghĩa lớn nhỏ.
Nhân quả của lòng biết ơn, người nuôi dưỡng tâm biết ơn đi đến đâu cũng được người quý trọng, gặp thuận duyên nhiều hơn nghịch cảnh, con cháu sinh ra hiếu thảo thuận hòa, được nhiều người sẵn lòng giúp đỡ khi khó khăn. Người hay nhớ ơn chính là người đang tạo phước lớn, phước về nhân duyên phước về thiện cảm phước về chánh niệm. Vì sao? Vì người biết ơn luôn sống tỉnh thức, họ không dễ quên nguồn, họ không vội chê bai, họ luôn khiêm hạ mà khiêm hạ là nền tảng của trí tuệ và công đức.
Nhân quả của sự vô ơn. Ngược lại, người sống vô ơn sẽ gặp cảnh cô độc không ai thật lòng thương, nghiệp bất hiếu sinh ra con cháu bất kính, làm việc gì cũng khó thành vì không được ai giúp lâu dài. Người không biết ơn dễ sinh tâm phản bội vong ân, quay lưng với người từng nâng đỡ mình và đó là gốc sinh ra ác nghiệp, dù có thông minh tài giỏi cũng khó giữ phước. Đức Phật từng dạy người không nhớ công ơn người khác dù tu ngàn kiếp phước cũng không đầy.
Một câu chuyện cảm động, có một thanh niên thành đạt giàu có đi xe sang nhà lầu. Một hôm anh ghé lại một quán ăn cũ nơi mẹ từng dắt anh vào ăn mỗi chiều. Cô chủ quán nay đã già lưng còng, bà nhận ra anh rưng rưng, ngày xưa con và mẹ hay ăn ở đây, mẹ con lúc đó nghèo nhưng luôn trả tiền đầy đủ, bà hay dặn đừng bao giờ quên những ai cho mình bữa cơm. Anh bật khóc, ngay hôm đó anh quyết định trích tiền xây lại quán giúp bà chủ dưỡng già. Anh nói mẹ con mất rồi nhưng ơn bà con không quên, con giúp bà cũng là trả ơn mẹ. Đó là nghiệp biết ơn đã nở thành hoa phước.
Làm sao nuôi dưỡng lòng biết ơn? Mỗi ngày viết xuống ba điều con thấy biết ơn, mỗi khi ăn nhớ ơn người nấu người trồng người chuyên chở, mỗi khi nhận được giúp đỡ dù nhỏ hãy cảm ơn và ghi nhớ, dạy con cháu sống lễ phép biết tri ân, quỳ lễ cha mẹ cúng dường Tam Bảo bằng tâm thành kính. Biết ơn trong tu tập, người tu cần nhớ bốn trọng ân, ân cha mẹ ân thầy tổ ân quốc gia ân chúng sinh. Người sống đủ bốn ân là người luôn đi trong ánh sáng, họ không nói lời bất kính, họ không phản bội, họ không ngạo mạn, họ tu với tâm khiêm hạ và lòng thấu hiểu.
Kết: không ai có thể đi một mình trong kiếp sống này, mỗi bước chân đều có dấu vết của ân nghĩa, mỗi giọt nước ta uống hạt cơm ta ăn đều không tự có. Từ hôm nay, hãy tập sống biết ơn, biết ơn người đang ở bên mình, biết ơn người từng làm mình khóc vì họ giúp mình trưởng thành, biết ơn từng khó khăn vì đó là bài học vô giá. Nguyện cho quý Phật tử luôn sống trong tâm niệm biết ơn vì biết ơn là nhân của hạnh phúc, là nền tảng của phước đức, là chất liệu của người tu thật sự. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của sự nóng giận và lời nói thiếu kiểm soát. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Có một thứ rất nhanh rất mạnh rất sắc nhưng không ai thấy hình dáng đó là cơn giận, nó đến bất ngờ đi vội vã nhưng để lại vô số đổ vỡ, có khi chỉ một lời trong cơn nóng giận mà đánh mất một mối quan hệ quý giá, có khi một phút không kiểm soát mà tạo nên nghiệp khổ cho nhiều năm về sau. Hôm nay thầy xin giảng về chủ đề thứ năm trong loạt bài nhân quả, nhân quả của sự nóng giận và lời nói thiếu kiểm soát.
Cơn giận, ngọn lửa thiêu rụi công đức. Trong kinh Pháp Cú, đức Phật dạy dầu cho có tu tập trăm năm mà chỉ một cơn sân nổi lên thì công đức ấy cũng như rừng bị thiêu trong một đêm. Nóng giận là một dạng tâm độc hại, khi giận con người có thể nói lời độc, làm việc sai gây thương tổn, mất lý trí mà tất cả những điều ấy đều trở thành nhân của khổ. Lời nói trong cơn giận tạo nghiệp rất nặng, một câu chửi cha mẹ quả báo đọa địa ngục, một lời xúc phạm người tu hành quả báo mất phước sinh trong cảnh nghèo hèn, một lời đay nghiến người thân gieo nghiệp tổn thương trong chính dòng máu của mình. Đức Phật dạy khi nói lời hãy nhớ lời ấy sẽ ở lại trong tâm người nghe lâu hơn trong miệng ta. Khi giận lời nói như dao, dao đã rút vết đã hằng dù có xin lỗi cũng không thể xóa hết được dư âm.
Nhân quả của sự giận dữ, người hay nổi giận về sau thường bị tổn thọ bệnh tật do năng lượng tiêu cực chi phối, người sống sân hận sắc diện u ám không ai muốn gần phước tiêu tán, người giữ oán thù tâm bất an không tụ tập được thiện nghiệp. Người sân hận như người tự cầm than hồng mà nắm, đốt chính tay mình trước khi chạm vào người khác. Cội gốc của giận là gì? Là cái tôi quá lớn, là lòng tham không được thỏa mãn, là thói quen thiếu tu tập, người không học cách lắng nghe không biết lùi lại một bước, không có chánh niệm thì dễ bị sân chi phối.
Một câu chuyện nhỏ, có một cư sĩ đến gặp thầy than rằng con nóng lắm dễ nổi cáu, mỗi lần cãi nhau với vợ con là con la lớn rồi sau đó con lại ân hận, thầy đưa cho anh một tách nước đầy. Thầy bảo hãy cầm ly này đi vòng quanh chùa, đừng để nước đổ. Anh làm xong trở lại. Thầy hỏi trong lúc đi con có nổi nóng với ai không? Dạ không, con chỉ lo giữ nước. Thầy cười, khi tâm có mục tiêu chánh niệm con sẽ không có chỗ cho giận. Người tu cũng vậy, nếu con biết quay về với hơi thở với lòng từ thì cơn giận sẽ không có chỗ trú.
Làm sao chuyển hóa cơn giận? Thở chánh niệm khi bắt đầu thấy mình nóng, im lặng trì một câu Phật hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, viết ra cảm xúc không nói ngay, rời khỏi chỗ xung đột trong vài phút, tập lắng nghe hiểu nguyên nhân của người kia. Sau cơn giận phải quán chiếu lại để biết mình còn nghiệp gì cần tu. Buông giận giữ phước khi con giữ được bình tĩnh không nổi giận, con giữ được hòa khí gia đình, con giữ được mối quan hệ lâu dài, con giữ được phước, con giữ được chánh niệm. Người biết giữ tâm trước khi giữ lời là người đang bước vào quả lành.
Kết: giận là bản năng nhưng không giận là bản lĩnh và càng tu tập càng phải học cách buông giận như buông một mồi lửa. Không ai giàu mà không biết giữ miệng, không ai tu mà không biết giữ tâm và không ai có phước mà không học cách kiểm soát lời mình trong lúc nóng giận. Từ hôm nay, hãy tập thở chậm lại khi giận, tập nói nhẹ lại khi bực, tập lặng lại khi sắp nổi sân vì một lời nói thiếu kiểm soát có thể thành nghiệp, nhưng một cơn giận được chuyển hóa sẽ thành phước. Nguyện cho tất cả quý Phật tử học được cách giữ tâm an, giữ miệng lành, giữ khí nhu hòa để đời sống không bị thiêu rụi bởi ngọn lửa giận mà được nuôi lớn bằng ánh sáng của từ bi và trí tuệ. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của sự trì hoãn và tâm thiếu nhất quán. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Có một thói quen rất phổ biến nhưng âm thầm bào mòn đời sống tâm linh, làm hỏng nhiều nhân lành và khiến người tu rơi vào cảnh dở gian đó là trì hoãn. Thêm vào đó là một trạng thái tâm khác cũng rất nguy hiểm, thiếu nhất quán nay tu mai bỏ nay phát nguyện mai quên nay khởi tâm lành mai đã nguội lạnh. Hôm nay thầy xin giảng về nhân quả của sự trì hoãn và tâm thiếu nhất quán.
Trì hoãn là gì? Trì hoãn là khi biết nên làm nhưng cứ để mai, có việc thiện cần hành trì nhưng không khởi đầu, biết tu là tốt nhưng vẫn chần chừ. Người trì hoãn thường sống trong tâm lý để mai rồi tính lúc nào rảnh sẽ làm, chờ thuận duyên. Nhưng thưa quý vị, đời vô thường có thể ta nghĩ sẽ còn nhiều mai nhưng không ai biết mai còn không. Đức Phật dạy chớ để ngày mai điều có thể làm hôm nay, cái chết không báo trước, hãy hành trì như thể hôm nay là cuối cùng.
Nhân quả của trì hoãn, người hay trì hoãn sẽ không hoàn thành việc lớn, mất niềm tin từ người khác vì không đáng tin cậy, gieo nhân dở gian nên quả cũng không trọn, trong đời sau thường sinh vào hoàn cảnh lưng chừng, thiếu động lực mất phương hướng. Nghiệp trì hoãn là một loại nghiệp làm mất lực hành động, nó khiến con người không có sức bền, không có quyết tâm và dễ bị cuốn theo ngoại cảnh.
Tâm thiếu nhất quán là gì? Thiếu nhất quán là hôm nay phát nguyện ngày mai quên, hôm nay siêng tụng kinh mai bỏ ngang. Khi thuận thì tu, khi nghịch thì bỏ, khi vui thì làm phước, khi buồn thì sinh tâm thối lui. Người tu như thế không khác gì người chèo thuyền giữa sông mà cứ đổi hướng liên tục, rốt cuộc không qua được bờ bên kia.
Nhân quả của tâm thiếu nhất quán, làm việc gì cũng nửa vời không có thành tựu lớn, gieo nhân lành nhưng không đủ duyên để trổ quả, trong đời sống dễ gặp cảnh dở gian học không xong nghề không vững duyên không bền. Trong đường tu khó chứng đắc vì tâm lực yếu, không bám trụ đủ lâu với một pháp môn, người không có tâm kiên định không giữ được nguyện lực thì nghiệp cũ dễ kéo về làm mờ chí hướng.
Một ví dụ thực tế, có một Phật tử phát nguyện tụng 108 biến chú đại bi mỗi ngày trong 49 ngày nhưng chỉ ba hôm đầu là nghiêm túc. Qua ngày thứ tư lấy lý do bận việc dời lại, ngày thứ sáu thì tụng sơ sài, qua tuần thứ hai thì quên hẳn. Gặp thầy người ấy thưa con thật có tâm nhưng không hiểu sao cứ bị lười. Thầy nói không phải con không có tâm mà là con chưa đủ lực, muốn có lực phải gieo sự kiên trì nhỏ mỗi ngày, đừng chờ đến ngày có thời gian hãy bắt đầu với mười phút mỗi sáng, điều quan trọng là đều đặng.
Làm sao để chuyển hóa nghiệp trì hoãn và tâm thiếu nhất quán? Ghi rõ phát nguyện dán nơi dễ thấy, chia nhỏ mục tiêu vừa sức, có người đồng hành tu tập để giữ nhau tinh tấn, khi muốn bỏ hãy nhớ lý do mình bắt đầu. Mỗi ngày một việc lành nhưng làm đến nơi đến chốn. Tinh tấn, trái tim của người tu, tinh tấn là một trong bốn sức mạnh của người hành đạo. Tinh tấn đoạn ác, tinh tấn phòng hộ, tinh tấn tu tập, tinh tấn giữ Pháp. Người càng tinh tấn càng vượt được nghiệp cũ, người càng nhất quán càng dễ thành tựu đạo nghiệp. Đức Phật thành đạo không phải vì ngài phát nguyện mạnh mà vì ngài không lui bước dù chỉ một đêm cuối dưới cội bồ đề.
Kết: mỗi lần trì hoãn ta đang bỏ lỡ một cơ hội gieo nhân lành, mỗi lần thối chí ta đang lùi khỏi con đường giải thoát. Hãy nhớ rằng thiện căn muốn vững cần sự lập lại nhất quán. Phước báo không đến từ việc lớn lao mà từ những điều thiện nhỏ làm đều làm đủ làm không bỏ. Nguyện cho quý Phật tử nhận diện được nghiệp trì hoãn, biết nuôi dưỡng lực tinh tấn, phát nguyện tu tập nhất tâm không lùi không đổi không chờ để từng bước bước lên nất thang của an lạc và giải thoát. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của việc nuôi dưỡng tâm tham dục trong đời sống hàng ngày. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong ba gốc rễ gây khổ đau luân hồi tham sân si thì tham dục là điều sâu dày và tinh vi nhất. Người đời vì tham mà dính mắc vì dục mà mất phước, vì nuôi lớn lòng khao khát không điểm dừng mà phải trả giá bằng thân tâm gia đạo nhân cách và cả sự tái sinh trong khổ cảnh. Hôm nay, thầy xin giảng về đề tài thứ tám, nhân quả của việc nuôi dưỡng tâm tham dục trong đời sống hàng ngày.
Tham dục là gì? Tham dục không chỉ là tình dục, nó bao gồm dục về tiền bạc, dục về địa vị, dục về danh vọng, dục về cảm giác khoái lạc ăn uống hưởng thụ. Hình sắc dục là sự ham muốn quá độ, là tâm khát cầu những điều làm vừa lòng năm giác quan mà không có điểm dừng không có tỉnh thức không biết đủ. Vì sao tham dục tạo nghiệp? Người càng nhiều tham dục càng có khả năng nói dối để đạt mục đích lừa người gạt người phá hoại hạnh phúc gia đình người khác, làm việc phi pháp để có tiền để thỏa dục vọng. Đó đều là những hành vi tạo ác nghiệp từ miệng thân đến ý và như vậy quả báo không thể tránh khỏi.
Nhân quả của tâm tham dục, người nuôi dưỡng tâm dục thường gặp nhiều bất an bức bối nội tâm hôn nhân lục đục. Vì không biết dừng không biết thủy chung, bị người khinh ghét mất uy tín, thân thể suy kiệt thần sắc tối sầm vì hao tổn tinh khí, về sau tái sinh trong cảnh giới thấp ngạ quỷ súc sinh địa ngục. Đức Phật dạy tâm đầy tham dục như ngọn lửa thiêu đốt cả rừng phước báu, người sống buông lung dục vọng không khác gì cá mắc cạn vùng vẫy trong tuyệt vọng.
Một câu chuyện thật, có một thương gia giàu có vợ đẹp con ngoan nhưng ông vẫn ngoại tình, sau một thời gian cả hai gia đình tan vỡ, ông bị đối tác quay lưng thân mang bệnh nặng con cái bỏ rơi. Gặp thầy ông khóc con mê quá thầy ơi, lúc say tưởng như mình được yêu, giờ tỉnh mới biết mình bị dục vọng dắt đi như trâu bị xỏ mũi. Thầy chỉ đáp may con còn kịp tỉnh, không có cơn mê nào kéo dài chỉ có hậu quả là ở lại lâu hơn.
Tâm dục bắt đầu từ đâu? Từ sự tiếp xúc không kiểm soát, từ cái nhìn không chánh niệm, từ phim ảnh sách báo mạng xã hội nuôi lớn, ý tưởng tham dục mỗi ngày từ thói quen sống hưởng thụ thiếu tu tập, người không biết canh cửa tâm sẽ dễ bị dục tràng vào bám chặt khó thoát. Làm sao để chuyển hóa tâm dục? Quán vô thường, sắc đẹp rồi cũng tàn của cải rồi cũng mất, giữ giới đặc biệt là giới tà dâm nói dối nghiện ngập, hạn chế tiếp xúc với môi trường kích dục phim hình ảnh lời mời gọi, thường tụng kinh niệm Phật để tâm lắng diệu thiền quán về nhân quả. Mỗi lần dục khởi, hãy nhớ đến hậu quả biết đủ trong đời sống, ăn vừa ngủ vừa tiêu vừa.
Người tu nên làm gì? Người tại gia giữ lòng chung thủy biết tiết chế sống đạo đức, người xuất gia tránh mọi điều khơi gợi dục sống đơn giản tỉnh thức, người trẻ tập rèn tâm không để dục vọng điều khiển hành động. Phật dạy người khéo điều phục được dục thì dù sống giữa thế gian vẫn không bị trói buộc.
Kết: tâm tham dục giống như lửa âm ỷ không ai thấy nhưng nó làm cháy tâm từ, đốt trí tuệ và bào mòn phước đức. Từ hôm nay hãy nhìn lại cách mình sống, điều chỉnh cách mình tiêu dùng, thắp lại ngọn đèn tỉnh thức để soi vào từng hành động từng ham muốn. Vì biết dừng là an, biết tiếc chế là phước, biết giữ tâm sạch là đang bảo vệ con đường giải thoát. Nguyện cho quý Phật tử luôn tỉnh giác trước mọi cám dỗ, giữ được tâm ý thanh tịnh, hành động đúng pháp và sống đời đạo đức nhẹ nhàng an lạc. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của sự hủy hoại môi trường giết hại sinh linh. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong thời đại hiện nay khi môi trường đang bị tàn phá từng ngày, khi thiên tai hạn hán lũ lụt bệnh dịch xảy ra liên tục, ta cần nhìn lại một cách sâu sắc phải chăng tất cả những điều ấy không phải ngẫu nhiên? Phải chăng con người đang gặt quả từ chính những gì mình đã gieo cho đất trời và muôn loài? Hôm nay thầy xin giảng về đề tài thứ chín, nhân quả của sự hủy hoại môi trường giết hại sinh linh.
Phật dạy về lòng từ với vạn vật, đức Phật không chỉ từ bi với con người mà còn dạy chúng ta không được sát sinh, không làm tổn hại đến sự sống của bất kỳ sinh vật nào, không phá rừng đốt lửa bừa bãi hủy hoại tự nhiên. Trong kinh Tăng Chi, ngài dạy chúng sinh vì vô minh mà tạo nghiệp sát, hủy diệt sinh mạng là cắt đức dòng sống làm tổn hại mối liên kết giữa muôn loài. Mỗi con vật mỗi cái cây mỗi dòng sông đều có phần sống riêng, khi con người xem thường sự sống ấy con người đang gieo một loại ác nghiệp rất nặng, hủy hoại môi trường.
Là gieo nhân gì? Phá rừng gieo nhân khô hạn lũ lụt đất đai bạc màu, ô nhiễm nước gieo nhân bệnh tật thiếu nước sạch, thải độc vào không khí gây bệnh hô hấp suy giảm hệ miễn dịch, xây dựng vô độ chặn dòng chảy tự nhiên gây biến đổi khí hậu thời tiết cực đoan, người sống mà không giữ gìn môi trường là đang cắt đức sợi dây duyên sinh giữa mình và thế giới xung quanh và điều gì đứt sẽ phải trả giá. Giết hại sinh linh nghiệp sát nặng nhất, giết hại không chỉ là đâm chém mà còn là nuôi giết động vật để ăn thịt, làm nghề sát sinh đồ tể đánh cá, chăn nuôi công nghiệp hưởng thụ trên nỗi đau của sinh vật khác.
Quả báo của nghiệp sát là mạng sống ngắn ngủi, bệnh tật triền miên, gặp nhiều tai nạn, luân hồi trong ba đường ác địa ngục ngạ quỷ súc sinh. Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng, đức Phật dạy người sát sinh đời này bị quả báo tổn thọ, đời sau sa vào ác đạo.
Một câu chuyện tỉnh thức, có một người đàn ông làm nghề giết mổ suốt 20 năm, sau đó ông quy y bắt đầu ăn chay niệm Phật phát tâm sám hối, một lần ông kể lại con từng giết không biết bao nhiêu con vật. Lúc đầu con không thấy gì nhưng về sau trong mơ con thấy những đôi mắt giận dữ, con bị ám ảnh con đau đầu khó thở bệnh không dứt. Đến khi gặp thầy con mới hiểu đó là oán khí, con sợ lắm con chỉ mong đủ duyên để sám hối phần nào. Từ đó ông đi chùa phóng sinh sống khiêm hạ dần dần sắc mặt sáng hơn bệnh nhẹ hơn, đó là quả thiện khi biết quay đầu.
Làm sao để chuyển nghiệp sát và bảo vệ môi trường, tập ăn chay hoặc giảm ăn mặn, phát nguyện không sát sinh không giết hại dù là côn trùng, phóng sinh đúng Pháp với tâm từ bi, không vứt rác bừa bãi, giữ gìn nguồn nước bảo vệ cây xanh, dạy con cháu thương quý thiên nhiên, khi có điều kiện góp phần vào các hoạt động bảo vệ môi trường trồng rừng dọn rác, trái đất là thân rộng lớn của mỗi người khi con người thấy mình tách biệt với môi trường đó là vô minh. Nhưng khi tuệ giác phát khởi ta sẽ thấy lá cây là phổi, dòng sông là mạch máu, không khí là hơi thở, làm hại môi trường là đang làm hại chính thân mình. Yêu thiên nhiên là đang gieo nhân lành cho thân tâm, cho đời sống và cả những kiếp sau.
Kết: sát sinh hủy hoại môi trường làm tổn thương sự sống đều là nhân ác và không có nhân ác nào không trổ quả. Từ hôm nay, hãy ăn một bữa chay bằng tâm biết ơn, thắp một nén nhang để sám hối nghiệp ác, nhặt một mảnh rác giữ một dòng nước trong một cây, sống với một chút tiết chế vì từng hành động nhỏ đang quyết định quả báo lớn. Nguyện cho quý Phật tử biết quý trọng mọi sự sống dừng sát hại, sống chang hòa với thiên nhiên để gieo nhân từ bi, gặt quả an lạc và tạo một thế giới tươi lành cho chính mình và muôn loài. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả từ việc gieo lời chê bai chỉ trích người khác. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong đời sống hằng ngày, lời nói của ta có thể là phương tiện đem lại hạnh phúc, cũng có thể là mũi dao đâm vào lòng người. Một lời khen đúng lúc như nắng sớm giữa mùa đông, nhưng một lời chê bai chỉ trích dù là thật hay chưa hẳn đúng cũng có thể gieo đau đớn tạo hiềm khích phá hủy tâm thiện đang nảy mầm. Hôm nay thầy xin chia sẻ về đề tài cuối của phần đầu tiên trong chuỗi 20 pháp thoại nhân quả, nhân quả từ việc gieo lời chê bai chỉ trích người khác.
Lời chê bai là gì? Chê bai không phải là góp ý thiện lành, chê bai là nói điều không hay về người khác với tâm kiêu mạng nhấn mạnh vào khuyết điểm để làm người nghe tổn thương, dùng lời nói để hạ thấp chê bai dèm pha sau lưng chỉ trích liên tục không vì xây dựng mà để thỏa mãn bản ngã. Người hay chê bai là người thấy lỗi người khác nhanh hơn thấy lỗi chính mình, họ thường thấy người hơn mình thì ganh tỵ, thấy người sai thì mừng rỡ chỉ trích, dùng lời nói làm công cụ hơn thua.
Nhân quả của lời chê bai chỉ trích, người gieo nghiệp nói lời gây tổn thương sẻ bị người khác hiểu sai mất lòng tin, không giữ được bạn tốt vì khó gần, gặp cảnh bị nói xấu bị đàm tiếu sau lưng, trong đời sau sinh vào nơi có nhiều xung đột tranh cãi không khí bất hòa. Đức Phật dạy kẻ nói lời đâm thọc chê bai kẻ khác như người rắc tro lên gió ngược, tro ấy sẽ rơi vào mặt mình. Sự khác nhau giữa góp ý và chỉ trích, góp ý xuất phát từ lòng từ bi muốn người kia tốt hơn, nói với tâm nhẹ nhàng lựa đúng lúc. Chỉ trích, nói ra để thỏa mãn cảm xúc của mình, nói với tâm bực bội làm người khác tự ái tổn thương. Lời góp ý đúng là thuốc, lời chê bai cay nghiệt là độc và cả hai đều sinh ra quả báo tương ứng.
Một câu chuyện nhỏ, có một người cư sĩ giỏi lý luận, mỗi khi đến chùa đều hay soi lỗi người khác. Người thì tụng kinh sai, người thì lễ Phật không đúng, người thì ăn mặc chưa nghiêm túc. Một ngày thầy trụ trì hỏi con đến chùa để thấy lỗi người hay thấy lỗi mình? Người ấy thưa dạ cả hai, thầy nói người thấy lỗi mình sẽ khiêm cung và tu sửa, người thấy lỗi người sẽ sinh tâm kiêu mạng và khó tiến, con muốn đi xa thì nhìn vào trong. Từ đó người cư sĩ bớt nói châm hành trì, vài năm sau chính ông lại là người diều dắt được nhiều người mới vào đạo bằng sự bao dung.
Làm sao chuyển hóa nghiệp hay chê bai? Quán vô thường ai cũng đang thay đổi, hôm nay họ vụng ngày mai họ có thể giỏi. Quán nhân duyên mình chưa từng sống cuộc đời của người kia, không nên vội phán xét, thấy người sai thay vì chê hãy âm thầm hồi hướng cho họ sớm giác ngộ. Nếu cần góp ý hãy nói riêng, nhẹ nhàng với lòng từ. Thường tập nói lời tùy hỷ lời an ủi lời động viên. Người hay chê sẽ khó giữ phước, người chê bai tâm hay so sánh nên mất hỷ lạc khó giữ bạn tốt, mất đi người muốn ở gần hay phiền não vì thấy đâu cũng có điều không vừa ý. Người hay tùy hỷ tâm dễ vui dễ an, gặp ai cũng sinh thiện cảm gieo được duyên lành người thương trời hộ.
Kết: lời nói là nghiệp khẩu nhưng cũng là chìa khóa của phước hay họa. Một lời ta nói ra không mất đi, nó lưu trong tâm người nghe và cũng lưu trong chính nghiệp lực của mình. Từ hôm nay hãy nhìn người với con mắt thương, góp ý với tâm từ, khen một lời đúng lúc để gieo nhân lành, dừng một lời chê để giữ phước lành. Nguyện cho quý Phật tử biết dùng lời như hoa, nói điều lành gieo điều tốt, giữ khẩu nghiệp trong sáng để con đường tu không vướng bụi thị phi mà ngập tràng ánh sáng của trí tuệ và từ bi. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của việc sống hiếu thảo với Cha Mẹ. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong tất cả các hạnh lành không gì cao quý bằng hiếu hạnh, đức Phật dạy tâm hiếu là tâm Phật hạnh hiếu là hạnh Phật. Hiếu không chỉ là nền tảng đạo lý làm người mà còn là gốc rễ của phước báo thiện nghiệp và sự giác ngộ. Hôm nay thầy xin chia sẻ đề tài thứ 11 trong chuỗi pháp thoại nhân quả, nhân quả của việc sống hiếu thảo với Cha Mẹ.
Hiếu là gì? Hiếu không chỉ là nuôi Cha Mẹ khi già yếu, hiếu là kính trọng trong lời nói ánh mắt thái độ lắng nghe chăm sóc khi Cha Mẹ buồn phiền, không làm điều gì khiến Cha Mẹ xấu hổ lo lắng, góp phần làm gia đạo an vui hòa thuận, hướng Cha Mẹ về nẻo thiện đến gần Tam Bảo. Người con có hiếu là người không để Cha Mẹ thiếu ăn thiếu mặt, không cãi lời, không nói xấu Cha Mẹ, biết ơn sâu nghĩa nặng ghi lòng.
Nhân quả của hiếu hạnh, người có hiếu với Cha Mẹ được trời đất hộ trì làm việc gì cũng dễ thành, con cháu hiền lành lễ phép, gặp quý nhân giúp đỡ, lúc lâm nạn có người cứu nguy. Đức Phật dạy người phụng dưỡng Cha Mẹ đúng Pháp, công đức ấy hơn cả xây tháp cúng dường. Trong kinh Vu Lan, ngài cũng dạy rõ dù vai cổng Mẹ đầu đội Cha đi trọn cả trăm năm cũng chưa trả hết ân sâu. Quả báo của người bất hiếu, người bất hiếu với Cha Mẹ gặp nghịch cảnh làm ăn lụn bại, bị oán trách cô lập thân nhiều bệnh tật, con cái sau này ngổ nghịch bất hiếu trở lại.
Nghiệp bất hiếu là nghiệp rất nặng vì Cha Mẹ là ân nhân đầu tiên lớn nhất trong đời, phá vỡ ân ấy quả báo không thể tránh. Có người từng giàu có, làm ăn lớn nhưng khi Cha Mẹ bệnh ông không chăm sóc còn mắng chửi đẩy ra ngoài, sau này ông bị con ruột bỏ mặt khi bệnh tật thân đơn chiếc tiền của tiêu tan, đó là quả báo nhãn tiền của nghiệp bất hiếu. Hiếu thảo là tạo phước căn bản nhất, người muốn tu phải bắt đầu từ hiếu, tụng kinh nhưng cãi lợi Cha Mẹ không có phước, làm phước nhưng làm Cha Mẹ khóc phước bị tổn, cúng dường Tam Bảo nhưng bỏ mặt Cha Mẹ công đức không trọn.
Hiếu là đạo là nền móng, là cửa ngõ đi vào cõi thiện. Một người con gái làm công nhân, lương không cao nhưng tháng nào cũng gửi về quê cho Cha Mẹ, dù khó khăn chị vẫn ăn chay niệm Phật tụng kinh cầu cho Cha Mẹ được mạnh khỏe. Sau này chị gặp được chồng hiền, gia đình ấm êm con cái ngoan hiền, đó là phước báo từ hiếu sinh ra. Làm sao để sống hiếu thảo? Dù bận đến đâu vẫn hỏi thăm Cha Mẹ mỗi ngày, khi Cha Mẹ bệnh ưu tiên chăm sóc, không cãi lại khi Cha Mẹ nóng giận mà tìm cách giải thích nhẹ nhàng, làm việc lành tu tập hồi hướng công đức cho Cha Mẹ, khi Cha Mẹ còn sống hiếu dưỡng bằng vật chất tinh thần, khi Cha Mẹ đã mất hiếu hạnh bằng cách giữ giới làm phước cúng dường cầu siêu dẫn Cha Mẹ về gần đạo.
Hiếu lớn không chỉ là nuôi thân Cha Mẹ mà là độ Cha Mẹ vì tâm linh, mời Cha Mẹ nghe Pháp, dẫn Cha Mẹ đến chùa, khuyên Cha Mẹ giữ giới bỏ sát sinh, in kinh đúc tượng hồi hướng công đức cho Cha Mẹ. Người biết hướng Cha Mẹ về thiện đạo là người đang gieo phước lớn không chỉ cho đời này mà cả đời sau.
Kết: Cha Mẹ là Phật sống, người biết hiếu là người giữ được căn lành lớn nhất. Từ hiếu mà sinh ra thiện hạnh. từ hiếu mà mở ra đạo tâm. Từ hôm nay, hãy gọi một cuộc điện thoại cho Cha Mẹ, về sớm một chút để ăn cơm cùng họ, bỏ một chút tiền để phụng dưỡng họ, lắng nghe nhiều hơn nói nhẹ nhàng hơn, hành thiện và hồi hướng cho họ nhiều hơn vì đó là cách gieo nhân phước lành sâu bền nhất. Nguyện cho tất cả quý Phật tử được sống trọn vẹn với tâm hiếu, làm rạng rỡ đạo lý gia phong mở đường cho phước báo lớn sinh khởi. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả từ việc không giữ giới đặc biệt là giới tà dâm và nói dối. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong con đường tu học, giới luật là nền tảng đầu tiên là hàng rào bảo vệ thân khẩu ý khỏi rơi vào sai lầm. Giữ giới không phải để trở thành người khuôn mẫu mà là để sống tỉnh thức có phước có đức và an vui lâu dài. Ngược lại, người không giữ giới đặc biệt là giới tà dâm và nói dối sẽ tạo nên những nghiệp rất nặng ảnh hưởng trực tiếp đến đời này và đời sau. Hôm nay thầy xin chia sẻ bài pháp thứ 12 trong loạt bài nhân quả, nhân quả từ việc không giữ giới đặc biệt là giới tà dâm và nói dối.
Vì sao giới là gốc phước? Giới là nền móng của định, cửa ngõ của tuệ, cõi rễ của phước đức. Người giữ giới là người giữ được lòng trong sạch, hành động chánh đáng, lời nói chân thật tâm không loạn động. Phật dạy giới như đèn soi đường, người đi trong đêm mà không đèn dễ sa hố sâu. Giới tà dâm là gì? Tà dâm là ngoại tình sống không chung thủy quan hệ bất chính trái đạo lý, dùng hình ảnh lời nói mạng xã hội để kích dục, quan hệ với người đã có gia đình hoặc người không đồng thuận.
Tà dâm là nghiệp rất nặng vì gây tổn hại đến hạnh phúc của nhiều người, thân thể nhân phẩm tâm trí sự tỉnh thức lòng tin đạo đức xã hội. Quả báo của tà dâm, gia đình bất hòa con cái hư hỏng ngỗ ngịch, mất uy tín mất danh dự vợ chồng không bền, thân mắc bệnh tâm bất an tái sinh trong cảnh giới khổ đau ngạ quỷ súc sinh địa ngục. Một người sống trong dục vọng không kiểm soát sẽ không giữ được hạnh lành, dục vọng làm mờ trí khiến người hành động thiếu tỉnh táo.
Giới nói dối là gì? Nói dối là nói sai sự thật, nói để lừa lộc trục lợi, nói để che giấu tội lỗi, nói lời khéo léo để tô bóng bản thân. Im lặng khi cần nói thật cũng là một hình thức gián tiếp, người hay nói dối sẽ đánh mất niềm tin từ người khác, đạo đức cá nhân, cơ hội tu tập đúng chánh Pháp. Quả báo của nói dối, thường bị hiểu lầm bị nói xấu, mất sự kính trọng gặp bạn bè giả dối, tái sinh làm người hay bị vu oan không ai tin lời. Đức Phật dạy người nói dối không khác gì đập vở chén nước trong lòng người, một khi đã vỡ không ai dám rót niềm tin thêm lần nữa.
Một câu chuyện thật, có một doanh nhân thành đạt bên ngoài đạo mạo nhưng sống hai mặt ngoại tình nói dối vợ, dùng lời ngon ngọt để dụ người khác đầu tư. Sau nhiều năm, mọi việc đổ bể, vợ bỏ con không nhìn mặt, sự nghiệp sụp đổ. Gặp thầy, ông nói con mất tất cả vì không giữ được một giới căn bản. Thầy chỉ nhẹ nói con gieo nhân bằng miệng và thân thì quả sẽ đến từ chính nơi đó.
Làm sao giữ giới đúng Pháp? Nhớ lời Phật dạy đọc giới luật mỗi tuần, giữ thân sạch không phạm tà hạnh, tránh môi trường dễ sinh tâm dục, sống ngay thật không dối trá, khi lỡ phạm phải sám hối lập nguyện không tái phạm. Giữ giới là giữ cho mình, là tạo ranh giới bảo vệ đạo đức tâm lành và phước báo lâu dài.
Kết: giữ giới không khó nếu có tỉnh thức nhưng không giữ giới hậu quả luôn đến sớm hay muộn. Tà dâm và nói dối là hai cửa ngõ dễ mở nhất dẫn vào khổ lụy nếu ta không canh chừng. Từ hôm nay hãy giữ lòng ngay thật, sống chung thủy biết đủ biết dừng, dùng lời chân thật nhẹ nhàng hiền lành vì mỗi khi giữ được một giới là con giữ được một lớp áo phước cho mình và gia đình. Nguyện cho quý Phật tử giữ giới thanh tịnh, hành xử trong sáng tạo nền tảng cho đạo hạnh được vững vàng và phước đức được sinh sôi dài lâu. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả từ tâm bố thí buông xả và lòng quảng đại. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trên hành trình tu tập có những việc làm tuy nhỏ nhưng có thể mở ra cánh cửa rất lớn của phước đức, trong đó bố thí với tâm buông xả không chấp thủ chính là một trong những hạnh lành đưa người tu vượt khỏi chấp ngã và tích lũy công đức bền lâu. Hôm nay thầy xin chia sẻ về đề tài thứ 13 trong chuỗi pháp thoại nhân quả, nhân quả từ tâm bố thí buông xả và lòng quảng đại.
Bố thí là gì? Bố thí không chỉ là cho tiền của cải, bố thí là cho đi tài vật tài thí, cho đi pháp học lời hay tri thức pháp thí, cho đi nụ cười ánh mắt hiền lòng từ vô úy thí. Bố thí không cần đợi giàu, không cần đợi dư mà chỉ cần có tâm rộng, dù là một bát cơm một ly nước một câu nói lành cũng là bố thí nếu làm bằng tâm không mong cầu. Vì sao bố thí tạo phước? Vì khi cho đi mình dừng được tâm tham, mình mở được lòng yêu thương, mình gieo duyên lành với người khổ, mình tích lũy được công đức hữu hình lẫn vô hình. Đức Phật dạy người bố thí như người trồng cây, khi đúng thời quả sẽ chín hoa sẽ nở.
Nhân quả của người hay bố thí được người quý mến thương kính, gặp thuận duyên trong việc làm ăn sự nghiệp, gia đình êm ấm con cháu hiền lành, tâm tánh rộng rãi vui vẻ, sau khi mất sinh về cõi lành cõi trời, người có phước gần tam bảo, bố thí là hành động bên ngoài nhưng tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong bên trong, người càng bố thí đúng Pháp càng tăng trưởng lòng từ xả chấp. Nhân quả của người không biết bố thí, dù có tiền cũng hay gặp cảnh mất mát, dù sống lâu vẫn hay cô độc, làm bao nhiêu cũng thấy không đủ, tâm hẹp sân hận dễ sinh ganh ghét, khi mất khó sinh vào cảnh giới an vui, người keo kiệt là người sống như tay nắm chặt không bao giờ đón được hạt mưa rơi.
Một câu chuyện nhỏ, có một bà cụ bán rau nghèo nhưng mỗi ngày đều dành ra một nấm rau một quả trứng để cúng Phật. Có người hỏi bà nghèo vậy mà cũng dám cúng? Bà cười, cúng không phải vì tôi dư mà vì tôi biết ơn, tôi có gì dâng cái đó quan trọng là lòng. Về sao con cháu bà đều hiếu thảo làm ăn thuận lợi, bản thân bà sống thọ tâm luôn an vui. Đó là quả ngọt của người gieo tâm bố thí, không đợi đủ mới cho.
Làm sao thực tập bố thí đúng Pháp, không chấp vào giá trị vật chất lớn nhỏ đều có thể tạo phước, không mong cầu người nhận phải biết ơn hay báo đáp, không kể công không sinh tâm ngã mạn, luôn hồi hướng công đức sau khi bố thí, tập cho đi điều mình quý không chỉ điều dư thừa, buông xả để có tự do. Bố thí là biểu hiện của tâm buông xả, khi buông con không còn bị vật chất chi phối, con nhẹ lòng trước được mất, con không bị ám ảnh bởi so đo hơn thua, con sống tự do giải thoát khỏi sự ràng buộc của sở hữu. Người biết buông đúng lúc là người đã vượt lên tâm thường của phàm phu.
Kết: bố thí không làm mình nghèo đi mà ngược lại đó là cách đầu tư thông minh nhất cho hiện tại và mai sau. Của cải cho đi bằng tâm thiện sẽ trở lại bằng duyên lành bằng người tốt bằng sự an ổn trong lòng. Từ hôm nay hãy cho đi một món đồ còn dùng tốt, chia sẻ một phần cơm cho người khổ, nói một lời động viên cho người đang mất phương hướng, buông một điều mình đã không còn cần để đón điều lành mới, nguyện cho quý Phật tử luôn có được tâm quảng đại, biết cho đi đúng lúc đúng Pháp đúng người để mỗi bước đi đều nhẹ, mỗi việc làm đều sáng, mỗi ngày sống đều đầy phước báo. Nam mô A Di Đà Phật.
Nhân quả của việc giữ tâm khiêm hạ và tránh ngã mạn. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong kinh Pháp Cứ đức Phật dạy người trí như đất nhận mọi thứ đổ lên mà không dao động, người khiêm hạ như nước luôn tìm chỗ thấp để chảy về. Khiêm hạ là đức tính khiến người tu không chỉ giữ được phước báu mà còn làm cho đạo tâm phát triển bền lâu. Ngược lại, ngã mạn là gốc rễ âm thầm gây ra đổ vỡ trong công đức nhân duyên và sự tiến tu.
Hôm nay thầy xin chia sẻ đề tài thứ 14, nhân quả của việc giữ tâm khiêm hạ và tránh ngã mạn. Khiêm hạ là gì? Khiêm hạ là không tự cao không khoe khoan, biết lắng nghe học hỏi nhận sai, kính trọng người trên hoan hỉ với người dưới, làm việc thiện mà không khoe không kể công. Người khiêm hạ là người không lấy tài năng làm cớ để ngạo mạn, không lấy địa vị làm lý do để khinh người, không lấy công đức làm lý do để so sánh. Ngã mạn là gì? Ngã mạn là thấy mình giỏi hơn hiểu hơn tu cao hơn người, không chịu tiếp thu phản bác mọi lời góp ý, hay chê người hay kể công hay nói về bản thân.
Trong lượng đại trí độ, ngã mạn được chia thành bảy loại: mạn, hóa mạng, mạng hóa mạng, nhã mạn, tăng thượng mạng, ti mạng, tà mạng. Dù dưới hình thức nào cũng là gốc rễ khiến phước tiêu trí giảm tâm thoái lui. Nhân quả của tâm khiêm hạ, gặp được thiện tri thức chỉ dạy, học gì cũng dễ tiếp thu dễ thành tựu, người thương mến quý trọng, làm việc gì cũng thuận duyên ít va chạm, tâm an trí sáng đạo nghiệp bền lâu.
Đức Phật từng nói, người tu có đức khiêm hạ là người đã gieo nhân thành Phật. Quả báo của người ngã mạn, dễ sinh khẩu nghiệp vì nói lời cao ngạo bị người xa lánh, không ai thật lòng kính trọng, tâm không an thường ganh ghét so sánh, dù có phước cũng không giữ được lâu, trong đời sau sinh vào nơi thấp hèn không ai tin tưởng. Người ngã mạn là người tự xây bức tường ngăn cách giữa mình và thế giới, từ đó cô lập thối chí không thấy lỗi không tiến bộ.
Một câu chuyện thật, có một vị Phật tử từng là người rất siêng tu, nhưng sau vài năm ông bắt đầu cho rằng mình hơn người khác, tụng kinh hay hơn hiểu sâu hơn. Khi nghe người góp ý ông nổi sân, khi thấy người mới tu ông chê bai. Dần dần ông bị mất phước, gia đạo bất an con cái không nghe lời, bản thân gặp nhiều trắc trở. Ông quay lại hỏi thầy, con vẫn tu mà sao khổ vẫn đến? Thầy đáp, con tu nhưng con ngã mạn, con lấp kín cửa tiếp thu, không ai rót nước vào ly đã đầy.
Làm sao để giữ tâm khiêm hạ? Luôn nghĩ rằng mình còn học còn tu còn sai sót, tập lắng nghe người khác nói không ngắt lời không phản bác ngay, làm việc thiện mà không khoe, tự quán chiếu mỗi ngày tâm con hôm nay có ngạo mạn không? Gần người hiền, học cách sống nhẹ nhàng. Nhớ rằng người tài thật không bao giờ khoe, người đức thật không bao giờ ngẩn cao đầu. Khiêm hạ là nền của tu, người mới tu cần khiêm để học đúng, người tu lâu càng cần khiêm để không thối tâm, người có chức vị càng cần khiêm để giữ đạo hạnh, người có công đức càng cần khiêm để công đức không tiêu mất. Đức Phật là bậc giác ngộ viên mãn nhưng suốt đời sống giản dị lễ độ không tự tôn. Đó là bài học sống động cho hàng hậu học.
Kết: khiêm hạ là hoa sen mọc từ đất bùng mộc mạc nhưng cao quý, ngã mạn là gai nhọn khiến người khác tổn thương khiến mình chảy máu công đức. Từ hôm nay hãy nói ít lại lắng nghe nhiều hơn, làm nhiều hơn nói, lùi một bước khi thấy mình muốn chứng minh, quán chiếu lại mỗi hành động lời nói xem có dính ngã mạn không. Nguyện cho tất cả quý Phật tử biết sống khiêm hạ mở lòng học hỏi, giữ tâm nhu hòa để mỗi ngày tiến gần hơn đến trí tuệ từ bi và giải thoát. Nam mô A Di Đà Phật.
Video gốc nhân quả nghiệp báo dài một tiếng năm phút đăng trên kênh youtube Nghe Và Ngẫm, định dạng mp4 được tạo bởi Nghe Và Ngẫm.
Đồng đạo tự tải hoặc chọn hai dạng khác Khương Itvtbadboy chuyển đổi phù hợp nhu cầu âm thanh hoặc xem khi rãnh với sổ tay pdf.