Kẻ hậu học khi xem kinh nên có ba nghiệp tâm khẩu ý phải được thanh tịnh. Nên thẳng mình ngồi ngay như ngồi trước đức Phật đó là thân nghiệp được thanh tịnh, miệng không nói lời sai trái không cười đùa đó là khẩu nghiệp được thanh tịnh, ý không tán loạn dứt sạch tâm phan duyên đó là thanh tịnh ý nghiệp.
Chú đại bi hòa thượng Thích Tuyên Hoá giảng giải. Xem kinh với lòng thành, kẻ hậu học khi xem kinh nên có tâm thái như sau, ba nghiệp tâm khẩu ý phải được thanh tịnh, ba nghiệp trên được lắng trong thì phước huệ tròn đầy.
Nên thẳng mình ngồi ngay như ngồi trước đức Phật đó là thân nghiệp được thanh tịnh.
Miệng không nói lời sai trái không cười đùa đó là khẩu nghiệp được thanh tịnh.
Ý không tán loạn dứt sạch tâm phan duyên đó là thanh tịnh ý nghiệp.
Khi tâm an tịnh thì ngoại cảnh lắng trong đó là khế ngộ nguồn tâm diệu nhập pháp lý, khi nước lóng trong thì vẻ sáng của ngọc tự chiếu soi mây tan trăng tự hiển bày đại nguyện thành tựu cũng như nhập vào biển diệu nghĩa, thấu đạt ý kinh cũng chính là đến được đỉnh núi cao trí tuệ. Nếu hành giả muốn dễ thành tựu phải gieo trồng đại nguyện, khi tâm pháp đều quên thì mình cùng pháp giới chúng sinh đều chung lợi lạc, có được như thế mới mong báo đáp ân sâu của chư Phật.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da.
Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.
Án !!! Tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đà sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đá, na ma bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.
Án !!! A bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê lị ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô kiết mông, đồ lô đồ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni thất Phật ra da, dá ra dá ra.
Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na, ta bà ha.
Tất đà dạ, ta bà ha.
Ma ha tất đà dạ, ta bà ha.
Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha.
Na ra cẩn trì, ta bà ha.
Ma ra na ra, ta bà ha.
Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha.
Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha.
Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha.
Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha.
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha.
Ma bà rị thắng kiết ra dạ, ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da.
Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.
Án !!! Tất điện đô, mạn đà ra bạt đà dạ, ta bà ha.
Đại bi chú giảng giải, kệ tụng của hòa thượng Thích Tuyên Hoá. Thủ nhãn thông tiên đại tổng trì, chấn động tam thiên thế giới thì, hữu duyên vô duyên hàm nhiếp hóa, từ bi phổ độ diêm phù đề. Phần giảng cú giải, từ trước đến nay nhiều người đã giảng rộng về kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni nhưng chưa có vị nào giảng giải về chú đại bi, thực vậy rất khó giảng giải về chú đại bi vì kinh văn thần chú này thuộc vào hệ mật ngôn chân ngữ. Nay để giảng về thần chú này trước tiên tôi xin đưa ra một bài kệ để thuyết minh cho ý nghĩa của thần chú.
Đại bi đại chú thông thiên địa, nhất bách nhất thiên thập dương quan, đại từ đại bi năng khử bịnh, nghiệp kính nhất chiếu biến cao huyền. Nghĩa là thần chú đại bi có công năng thông cả thiên đường thấu cả địa phủ, người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày 108 biến niệm ngàn ngày như thế thì có thể khiến thập điện Minh Vương hoan hỉ. Năng lực từ và bi của thần chú có thể chữa lành tất cả mọi bệnh tật và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời.
Đại bi đại chú thông thiên địa, khi quý vị niệm thần chú này thì trời đất đều chấn động cả pháp giới chuyển rung, trên thông cả cõi Trời dưới thấu khắp cả các cõi giới địa ngục, khắp cả mọi pháp giới Trời người đều cảm thông và tán dương công đức.
Nhất bách nhất thiên thập dương quan, nếu quý vị niệm thần chú này mỗi ngày 108 biến niệm ngàn ngày như vậy tức là vào khoảng ba năm, niệm thần chú này liên tục trong ba năm không gián đoạn, không bỏ sót một ngày bất luận quý vị có bận rộn như thế nào cũng không quên niệm thì có thể khiến cho mười vị vua điều hành công việc ở chốn địa phủ cũng phải hoan hỉ, có nghĩa là từ vua Diêm La cai quản điện thứ nhất cho đến vị vua Diêm La cai quản điện thứ mười cùng tất cả các chúng sinh đang bị tội báo ở trong mười địa ngục ấy điều được vui mừng.
Đại từ đại bi năng khử bệnh, năng lực từ và bi của thần chú này có thể chữa lành tất cả mọi bệnh tật. Vì sao gọi là chú đại bi? Là vì bi năng bạc khổ, nghĩ là bi có công năng làm cho mọi khổ nạn của chúng sinh được tiêu trừ, còn từ năng giữ lạc lòng tự thường đem lại niềm vui cho chúng sinh. Vì thần chú này khả năng bớt khổ ban vui cho mọi chúng sinh nên gọi là chú đại bi, chủ yếu nhất là công năng chữa lành mọi bệnh tật. Bất luận quý vị bị bệnh gì nếu quý vị trì niệm chú đại bi thì mọi bệnh khổ điều được tiêu trừ. Có người sẽ thắc mắc, tôi đã niệm chú đại bi rồi tại sao không lành bệnh? Quý vị chưa lành bệnh vì quý vị chưa vận hết lòng thành trong lúc trì niệm, với lòng chí thành chắc chắn quý vị sẽ có được sự cảm ứng khi niệm chú.
Nghiệp kính nhất chiếu biến cao huyền, khi quý vị trì niệm mỗi ngày 108 biến chú đại bi niệm trong 1000 ngày như thế thì thập điện Minh Vương vui mừng và sất cả mọi bệnh tật điều được tiêu trừ. Trong suốt 1000 ngày tức ba năm này quý vị đã thành tựu được khá nhiều công đức rồi, bởi vì trong ba năm này mỗi ngày quý vị đều gia tâm trì tụng thần chú nên không có điều kiện để tạo tác nghiệp nhân, quý vị không uống rượu không ăn thịt không ăn ngũ vị tân.
Trong địa ngục có một đài gương báo tội gọi là nghiệp kính đài, nếu quý vị gây một nghiệp ác nào thì nghiệp ấy sẽ hiện rõ trong đài gương kia cũng giống như hình ảnh đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như một người đời này gây tội sát nhân thì trong gương báo tội sẽ hiện ra cảnh người ấy đang giết người, nếu người ấy gây nghiệm trộm cắp thì trong gương sẽ hiện hình người ấy đang đi ăn trộm, nếu người ấy gây nghiệm đốt phá nhà cửa người khác thì trong gương sẽ hiện ra rõ ràng hành động đốt nhà ấy.
Còn nếu quý vị không gây tạo ác nghiệp gì cả thì sao? Thì chẳng có gì hiện ra trong kính đó cả. Vậy nên nếu quý vị trì tụng thần chú đại bi trong ba năm thì khi gương nghiệp soi chiếu đến tội báo của quý vị sẽ được tẩy sạch, nơi địa ngục ấy sẽ treo lên một tấm bản ghi rằng người này đã từng trì tụng chú đại bi tội báo của người này điều đã được hóa giải toàn bộ, tất cả các vị quỷ thần trong địa ngục đều cuối đầu lễ bái sùng kính người trì chú này như lễ bái cung kính chư Phật trong ba đời quá khứ hiện tại vị lai vậy. Đồng thời các vị quỷ thần ấy sẽ hộ trì người trì chú cũng như họ thường hầu cận chư Phật vậy, và các vị quỷ thần đều không báo cho nhau biết là không nên quấy nhiễu người trì chú này. Thần lực của chú đại bi thực là không thể nghĩ bàn.
Hàng ngày chúng ta vẫn thường tụng nam mô A Di Đà Phật, nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhưng quý vị có biết nam mô có nghĩa là gì không? Chắc là rất ít người biết được, cách đây vài năm có lần tôi đã đặt vấn đề này trong một pháp hội nhưng chưa một người nào có được câu trả lời hoàn chỉnh cả. Nam mô phiên âm chữ nama từ tiếng Phạn, trung hoa dịch là quy y cũng dịch là quy mạng kính đầu có nghĩa là con xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa vào chư Phật.
Cái bản ngã của chính mình không còn nữa mà con xin dâng trọn vẹn thân mạng mình lên chư Phật, nếu chư Phật cho con sống thì con sống bảo con chết thì con chết, con hoàn toàn tin vào chư Phật đó gọi là quy mạng. Còn kính đầu có nghĩa là hết sức cung kính và nương tựa vào đức Phật, đó là ý nghĩa của nam mô. Còn quy y có nghĩa là đem hết thân và tâm của mình đem hết cả mạng sống của mình trở về nương tựa vào đức Phật.
Nói tổng quát nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương, đó chính là bản thể của Bồ Tát Quán Thế Âm quý vị nên khởi tâm từ bi mà trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của Bồ Tát Quán Thế Âm nhưng cũng có nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật trong mười phương suốt cả ba đời quá khứ hiện tại vị lai. Khi quý vị trì niệm thần chú này không những chỉ nhắc nhỡ mình quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp mười phương vô biên vô tận mà còn khiến cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được thần chú này cũng đều quay về quy y kính lễ mười phương ba đời thường tụ Tam Bảo.
Quý vị có biết Tam Bảo là gì không? Đó là Phật bảo Pháp bảo và Tăng bảo, quý vị nên biết rằng trên thế gian này Phật bảo là cao quý nhất, cũng thế Pháp bảo và Tăng bảo là điều cao thượng và quý báu nhất. Không những cao quý ở thế gian mà còn cao quý đối với những cảnh giới xuất thế gian cho đến đối với cõi Trời phi tưởng phi phi tưởng nữa, không còn có gì cao quý hơn Tam Bảo trong Phật Pháp nữa. Trong mười pháp giới thì cảnh giới Phật là cao nhất thế nên chúng ta cần phải cung kính quy ngưỡng và kính thọ nơi Tam Bảo cao quý, phát khởi tính tâm kiên cố và thâm sâu không một mảy may nghi ngờ.
Có người sẽ hỏi quy y Tam Bảo sẽ có lợi ích gì? Tối thiểu nhất là khi quý vị quy y Phật rồi thì đời đời kiếp kiếp không đọa vào địa ngục nữa, khi quý vị quy y Pháp rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào hàng ngã quỷ quỷ đói nữa, khi quý vị quy y Tăng rồi thì quý vị không còn bị đọa làm loại súc sinh nữa. Đây là những đạo lý căn bản của việc quy y Tam Bảo nhưng khi đã quy y rồi quý vị phải tự nguyện và tinh tấn thực hành các việc lành tương ứng với lời dạy của đức Phật thì mới xứng đáng gọi là quy y.
Nếu quý vị vẫn còn giữ nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh trộm cắp tà hạnh dâm dục nối dối nghiện ngập và làm mọi điều mình thích để thỏa mãn ngũ dục thì quý vị không thể nào tránh khỏi đọa vào ba đường ác ngã quỷ địa ngục súc sinh. Bởi vì trong Phật Pháp không có sự nhân nhượng, quý vị không thể nói tôi đã quy y Phật quy y Pháp quy y Tăng rồi nên tôi sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục ngã quỷ súc sinh nữa vậy nên tôi có quyền làm điều gì tôi muốn.
Quý vị phải thay đổi chuyển hóa mọi tập khí xấu của mình và tích cực thực hành những việc thiện dứt khoát không bao giờ làm những việc ác nữa, nếu quý vị còn tiếp tục làm những việc xấu ác thì quý vị sẽ bị đọa ngay vào địa ngục. Đạo Phật không giống như ngoại đạo họ tuyên bố rằng quan trọng nhất là niềm tin, nếu có niềm tin thì dù có làm việc ác cũng có thể vào được thiên đường còn ngược lại nếu ai thiếu lòng tin dù có gắng sức làm việc phúc đức thì cũng sẽ rơi vào hỏa ngục.
Nếu quý vị tin vào đức Phật mà vẫn tạo các ác nghiệp thì nhất định quý vị sẽ bị đọa vào địa ngục, dù quý vị không tin vào đức Phật mà vẫn gắng sức làm việc phước thiện thì quý vị vẫn được lên thiên đàng. Phật pháp không bao giờ mê hoặc con người bằng cách nói nếu quý vị tin vào đức Phật thì mọi điều sẽ được như ý, ngược lại nếu quý vị tin vào đức Phật mà vẫn không chịu từ bỏ các việc ác thì quý vị vẫn phải bị đọa vào địa ngục.
Được rồi, quý vị lại thắc mắc nếu đã tin Phật rồi mà cũng đọa vào địa ngục như không tin thì tại sao phải quy y Tam Bảo? Chân chính quy y Tam Bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác quay về đường thiện sửa đổi mọi lỗi lầm như một người được khai sinh lại với tên mới, từ đây chỉ làm thuần túy những việc lành không làm những việc xấu ác nữa như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì vậy mà câu chú nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là quy y Tam Bảo vô cùng vô tận trong khắp mười phương, khi quý vị trì niệm chú này cũng có thể giúp tiêu trừ được những ách nạn cho quý vị, lúc gặp tai chướng quý vị hãy thường trì niệm nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì tai chướng ấy liền được tiêu trừ, tai nạn lớn sẽ biến thành tai nạn nhỏ và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ được tiêu sạch. Chú này được gọi là tiêu tai pháp là một trong năm bộ chú hộ ma.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng còn được gọi là tăng ích pháp, nghĩa là từ trước đến nay quý vị đã từng gieo trồng nhiều thiện căn và vẫn thường trì tụng chú này thì thiện căn quý vị sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều lần lợi lạc không kể siết, nên chú này được gọi là tăng ích pháp. Quý vị có thể niệm toàn bộ chú đại bi hoặc chỉ cần niệm câu chú đầu tiên này thôi. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da là thành tựu pháp, bất luận quý vị muốn điều gì thì sở nguyện sở cầu của quý vị đều được thành tựu như ý muốn.
Nếu quý vị không có con trai mà muốn cầu sinh con trai hãy niệm nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ sinh được con trai nhưng quý vị phải trì niệm với tâm chí thành. Không phải chỉ niệm một hai ngày rồi thôi mà phải niệm liên tục ít nhất là trong ba năm, nếu quý vị không có được bạn tốt mà muốn gặp được một người hãy niệm nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì liền gặp được ngay bạn lành. Nếu quý vị trì niệm được toàn thể bài chú đại bi thì quá tốt nếu không chỉ cần niệm câu đầu nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng sẽ thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn.
Câu chú này cũng còn được gọi là hàng phục pháp, năng lực của câu chú đó có thể hàng phục thiên ma chế phục ngoại đạo khi nó nghe đến câu chú này. Tuy vậy câu chú này không phải là câu triệu pháp, khi quý vị trì niệm một câu chú thuộc trong câu triệu pháp thì tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp nơi đều đến trình diện và có thể bắt giữ hoặc sai khiến được chúng. Vậy nên câu chú nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da này có công năng rất mạnh không thể suy lường được, nếu nói chi tiết thì không thể nào cùng tận được.
Tóm lại trong câu nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì nam mô có nghĩa là quy mạng kính đầu, hắc ra đát na là bảo, đá ra dạ có nghĩa là tam, da nghĩa là lễ. Nghĩa toàn câu là xin đem hết thân tâm tính mạng của mình quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp cả mười phương suốt cả ba đời, chúng ta phải cuối đầu đảnh lễ thường trụ Tam Bảo. Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật trong thời quá khứ là vô cùng vô tận, chư Phật trong thời hiện tại là vô cùng vô tận, chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận, cho nên Tam Bảo là vô biên vô tận.
Nam mô a rị da, nam mô nghĩa là đem hết thân tâm tính mạng quy y và kính lễ học tập chư Phật và chư Bồ Tát, a rị có nghĩa là thánh giả có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác Pháp nên nam mô a rị da có nghĩa là kính lễ các bậc thánh giả người đã xa lìa tất cả các Pháp bất thiện.
Bà lô kiết đế thước bát ra da, bà lô kiết đế có nghĩa là quán trong danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát cũng được dịch là quang từ danh hiệu Tỳ Lô Giá Na, nghĩa là quang minh biến chiếu hào quang chiếu khắp mọi nơi, còn được dịch là sở quán sát nghĩa là cảnh giới được quán chiếu được quán sát đến, thước bát ra da có nghĩa là tự tại. Ý nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại, đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ Tát Quán Tự Tại Bồ Tát Quán Thế Âm, có nghĩa là quan sát lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại.
Bồ đề tát đỏa bà da, mọi người đều biết bồ đề xuất phát từ tiếng Phạn là bodi có nghĩa là giác, tát đỏa có nghĩa là độ là vượt qua bể khổ cũng như đưa người khác vượt qua bể khổ đến bờ giải thoát. Bồ đề tát đỏa bà da có nghĩa là một vị Bồ Tát đã tự giác ngộ giải thoát và giúp cho mọi chúng sanh được giác ngộ giải thoát như mình, bà da có nghĩa là đảnh lễ, da có nghĩa là khấu đầu đảnh lễ cuối đầu đảnh lễ ai? Đảnh lễ các vị Bồ Tát đã tự giác ngộ giải thoát cho chính mình rồi còn giúp cho người khác được giác ngộ giải thoát. Câu thần chú này là muốn nhắc đến Bồ Tát Bất Không Quyến Sách Áp Đại Binh nghĩa là khi quý vị tụng câu thần chú này thì Bồ Tát Bất Không Quyến Sách đem binh tướng của cõi Trời đến để hộ trì cho quý vị.
Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha có ba nghĩa, đại là lớn đa là nhiều và thắng hoàn hảo. Ma ha với nghĩa là đại tức chỉ cho người phát tâm bồ đề rộng lớn, ma ha với nghĩa là đa tức chỉ cho số lượng có rất nhiều người phát tâm bồ đề, ma ha với nghĩa là thắng tức nói đến những người đã phát tâm bồ đề rộng lớn đều đạt đến chỗ thành tựu viên mãn được nhiều lợi lạc rất thù thắng.
Tát đỏa nghĩa của chữ tác đỏa trong câu chú này không giống như nghĩa trong câu trên, trong câu chú trên tác đỏa có nghĩa là độ, vượt qua bờ bên kia có nghĩa là giải thoát, còn trong câu chú này tác đỏa có nghĩa là dũng mãnh giả là người can đảm không sợ hãi cũng có nghĩa là tinh tấn giả là người tu hành rất siêng năng.
Bà da hán dịch là hướng tha đảnh lễ nghĩa là con xin đê đầu đảnh lễ các vị đại Bồ Tát là những người rất dũng mãnh rất tinh tấn không bao giờ sợ hãi và nguyện phát tâm bồ đề trước chư vị Bồ Tát này. Các vị đại Bồ Tát đã tự giác ngộ giải thoát cho chính mình rồi còn phát nguyện giúp cho vô số chúng sanh khác được giác ngộ và giải thoát như mình.
Ma ha ca lô ni ca da. Ma ha có ba nghĩa lớn nhiều và thù thắng như trên đã giảng, ca lô hán dịch là bi, ni ca nghĩa là tâm, hợp lại ma ha ca lô ni ca có nghĩa là tâm đại bi, da có nghĩa là đảnh lễ như đã giảng ở trên, toàn câu chú ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là cuối đầu đảnh lễ thần chú đại bi tâm Đà La Ni.
Án, án nghĩa là bổn Mẫu, là chú Mẫu Mẹ của tất cả mọi thần chú cũng chính là Phật Mẫu Mẹ của tất cả chư Phật. Mẹ của chư Phật có nghĩa là Mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh vì nguồn tâm của chúng sinh vốn sẵn có mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành nên gọi là bổn Mẫu. Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp môn được hiển bày.
Pháp môn thứ nhất là tự, là đầu nguồn làm xuất sinh mọi chủng tự.
Thứ hai là cú, trong kinh văn hoặc trong thần chú cú có nghĩa là một câu.
Thứ ba là quán, là quán chiếu quán sát vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì.
Thứ tư là trí, là trí tuệ. Dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả phiền não, trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ bát nhã ba la mật đó là trí tuệ viên mãn nhất còn quán là lưu xuất từ pháp môn thiền định ba la mật.
Thứ năm là hành, nghĩa là tu tập nương theo giáo pháp mà hành trì.
Thứ sáu là nguyện, nghĩa là cần phải phát nguyện nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
Thứ bảy là giáo, nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành. Nếu quý vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành thì dù quý vị có tu hành đến nhiều kiếp như số các sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả gì cả, cũng như thể nấu các mà mong thành cơm vậy. Tuy nhiên để có thể tu tập xứng hợp giáo lý chân chính của đức Phật thì trước hết quý vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận.
Thứ tám là lý, nghĩa là đạo lý. Nếu quý vị thể nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy, nếu quý vị không khế hội được diệu pháp này thì quý vị chỉ là người tu tập trong sự mù quáng, dù quý vị có tu hành bao lâu đi nữa cũng không đạt được sự thành tựu.
Thứ chín là nhân. Trong đời này quý vị phải gieo trồng những nhân thù thắng nhân tốt lành nhân thanh tịnh thì quá khứ quý vị sẽ gặt được quả thù thắng quả vi diệu và quả thanh tịnh.
Thứ mười là quả, quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân, đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng.
Như vậy từ chữ án này xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu nên khi quý vị trì niệm thần chú đại bi niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần điều chắp tay vô cùng cung kính không giám tỏ ra khinh xuất hoặc lơ là khi nghe hành giả trì tụng thần chú đại đi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ đến nỗi khiến cho các loại ác quý ác thần đều phải cung kính chấp trì, công năng của thần chú thật to lớn thần lực thật không thể nghĩ bàn.
Tát bàn ra phạt duệ, tát bàn ra hán dịch là tự tại nghĩa là khi quý vị trì tụng thần chú này thì tứ đại thiên vương đều đến làm hộ pháp cho quý vị, phạt duệ hán dịch là thế tôn cũng dịch là thánh tôn. Nguyên câu chú này có nghĩa là tự tại thế tôn tự tại thánh tôn tức là đức Phật tự tại ý là xưng tán Phật bảo.
Số đát na đát tả. Chữ số có hai âm là (xư / so) người ta thường niệm là xư, số đát na có nghĩa là pháp, pháp gì? Pháp này còn gọi là diệu thắng pháp cũng gọi là cao thượng thắng sinh, có nghĩa là không có gì vượt trội hơn pháp này nữa. Thắng sinh có nghĩa là từ pháp này xuất sinh ra năng lực rất thù thắng, còn một cách dịch khác của chữ số là diệu sinh hoặc thắng phân, diệu sinh tức là vượt lên trên mỗi sự vi diệu, thắng phân nghĩa là thể của pháp ấy rất thù thắng. Còn có một cách dịch khác nữa của chữ số là tối thượng thừa địa nghĩa là cảnh giới của hành giả sẽ trải qua sau khi chứng được thập địa của hàng Bồ Tát.
Đát na là biểu tượng của Pháp bảo, đát tả là biểu tượng cho Tăng bảo cho nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả là biểu tượng cho Tam Bảo. Có nghĩa là chúng ta phải nên ngưỡng nguyện đến sự gia hộ của Tam Bảo, nên khi trì niệm đến câu thần chú này có nghĩa là thỉnh cầu ngưỡng nguyện đến lực gia trì của Tam Bảo. Đát tả còn có nghĩa là dùng giáo pháp để răng dạy các loài quỷ thần và dùng thần chú để triệu tập quỷ thần đến mà dạy bảo cho chúng theo tình thần chánh pháp.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da. Xưa nay dường như quý vị luôn luôn nam mô với một người nào khác chứ chưa bao giờ nam mô với chính mình, người tu hành không cần phải đi nam mô một khách thể nào khác mà phải nam mô ngay với chính mình. Nam mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam Bảo vô cùng vô tận khắp mười phương, nam mô còn có nghĩa là đem tự ngã của chính mình thể nhập trọn vẹn vào cả pháp giới khắp cả mười phương tức là thể nhập vào Tam Bảo vô cùng vô tận khắp cả mười phương.
Tất kiết lật có nghĩa là hoàn toàn tức là đem hết toàn tâm toàn ý để quy y và đảnh lễ Tam Bảo. Đỏa y mông có nghĩa là ngã, đó chính là cái ngã của vô ngã nên quý vị phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ cái ngã của vô ngã như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như khi có người đánh quý vị quý vị không cảm thấy đau, nếu họ mắng chửi quý vị không thấy khó chịu, nếu họ nhục mạ quý vị thấy như thể không có gì xảy ra.
Quý vị không nhất thiết cần phải nhẫn nhục vì nếu dùng phép nhẫn nhục là quý vị đã rơi vào đệ nhị nghĩa rồi. Trong trường hợp này, quý vị không nhất thiết cần phải nhẫn vì vốn không có một bản ngã để dùng pháp nhân và không có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy tác động tới, có nghĩa là quý vị phải hành pháp nhẫn trong vô nhẫn đó gọi là ngã của vô ngã vậy.
A lị da ở trên đã giảng qua có nghĩa là thánh giả, ở đây tức là phải hết lòng đảnh lễ cái ngã ấy của thánh giả. Vô lượng vô biên chư Bồ Tát hết thẩy thiên long bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngã trong vô ngã của bậc thánh giả, cái ngã ấy bao trùm khắp vô lượng vô biên vũ trụ, có rất nhiều bậc thánh giả họ là ai? Dưới đây tôi sẽ giảng rõ.
Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Bà lô kiết đế dịch là quán, thất Phật ra dịch là tự tại hoặc là thế âm âm thanh ở trong thế gian, đây chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Bà lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm cũng chính là Quán Tự Tại, hai danh hiệu này không nhất định phải là Bồ Tát Quán Thế Âm mới được gọi là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm mà nếu khi quý vị đã đạt được tự tại rồi thì quý vị chính là Bồ Tát Quán Tự Tại.
Khi quý vị có được năng lực cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh thì quý vị chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy một khi quý vị đã thể nhập và vận dụng trọn vẹn pháp này rồi thì chính quý vị là hoá thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu tôi đạt được tự tại trong việc vận dụng pháp này thì chính tôi cũng là hoá thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Lăng đà bà dịch là hải đảo chỉ cho núi Phổ Đà nơi Bồ Tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Có sách nói núi Phổ Đà ở nước trung hoa, Phổ Đà có nghĩa là hoa trắng nhỏ vì nơi núi ấy có loại hoa trắng nở rất nhiều, trên núi có một cung điện được kiến tạo ở trong hang đá gọi là cung từ bi đó là nơi Bồ Tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Nơi đó được trang hoàng bằng bảy thứ châu báu vàng bạc xà cừ pha lê trân châu ngọc bích mã não nhưng không phải ai cũng đến được nơi cung điện này. Bà lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ Tát có đầy tâm nguyện đại từ bi. Lăng đà bà là cung điện từ bi nơi Bồ Tát Quán Thế Âm thường thị hiện.
Nam mô na ra cẩn trì, trong câu chú này nam mô vẫn có nghĩa là quy y và quy mạng kính đầu, na ra dịch nghĩa là hiền bậc hiền giả chỉ cho hàng Bồ Tát, cẩn trì dịch là ái có nghĩa là tình thương yêu. Trong ý niệm lòng từ bi bảo hộ che chở cho mọi loài, thế nên lòng từ bi của bậc hiền giả Bồ Tát thường đem đến sự bao bọc che chở cho chúng sinh. Trước đây tôi đã giảng về mười loại tâm được đề cập trong kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, quý vị nên y cứ theo mười loại tâm này mà công phu tu tập.
Na ra cẩn trì hán dịch là hiền ái thiện hộ có liên quan đến nghĩa thứ nhất nghĩa thứ sáu và nghĩa thứ mười trong mười loại tâm, đó chính là tâm đại bi tâm cung kính và tâm vô thượng bồ đề. Câu chú này đại biểu cho ba loại tâm như trên.
Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Hê rị có nghĩa là tâm, tâm này có ý nghĩa gì trong mười ý nghĩa? Nghĩa thứ tư là vô nhiễm trước tâm, tâm này giúp cho quý vị duy trì bản tâm thanh tịnh của mình, khi quý vị khởi tâm niệm tham sân si mạng nghi thì tâm quý vị liền bị ô nhiễm không còn thanh tịnh nữa, khi tâm quý vị không móng khởi những niệm ô nhiễm ấy thì tâm quý vị được thanh tịnh, ma ha có nghĩa là đại cũng có nghĩa là trường.
Bàn đà sa mế nghĩa là sao? Nếu tôi không nói chắc quý vị chẳng thể nào biết được. Nên quý vị muốn biết thì trước tiên tôi phải giảng lúc đó quý vị mới hiểu được. Quý vị mới nói rằng thì ra ý nghĩa của câu chú ấy là như thế. Bàn đà sa mế có nghĩa là đại quang minh nghĩa là hào quang rực rỡ chiếu khắp, bàn đà sa mế lại còn được dịch là trường chiếu mệnh nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.
Nguyên câu hê rị ma ha bàn đà sa mế có nghĩa là tâm đại quang minh, nghĩa là ánh sáng của tâm lực quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng thời gian vô tận, từ một vi trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy. Quý vị sẽ nói à cái đại quang minh của tâm ấy tôi đã nghe trong kinh giảng nói rất nhiều rồi.
Và... vâng, nhưng trừ khi quý vị không nghe tôi giảng giải thần chú đại bi thì quý vị không thể nào biết được, tôi sẽ giảng cho quý vị rõ. Thật là khó gặp được người nào có thể giảng giải về chú đại bi một cách rõ ràng tường tận. Thật vậy, hoàn toàn thực tình mà nói không mấy người thể nhập được rốt ráo ý nghĩa của thần chú đại bi hoặc là chuyển được ý nghĩa của thần chú.
Sẽ có người hỏi thế làm sao sư phụ biết được? Quý vị khỏi cần phải hỏi tôi vì tôi đã không hỏi thì thôi chứ quý vị đừng nên hỏi tôi tại sao mà tôi biết được, dĩ nhiên là tôi phải biết nếu tôi không biết tôi không thể nào giảng giải cho quý vị nghe được vì thế đừng nên hỏi tại sao tôi lại biết. Thay vì quý vị hỏi tại sao tôi biết thì quý vị hãy quay trở lại hỏi chính mình tại sao mình lại không biết?
Nếu quý vị biết được lí do tại sao mình không biết thì quý vị sẽ rõ được tại sao tôi biết. Trái lại, nếu quý vị không thể nào rõ được tại sao quý vị không biết thì quý vị cũng không thể nào rõ được lí do tại sao tôi biết. Đó chính là điều làm lên sự kỳ diệu vậy. Chẳng hạn có người đã hỏi tôi rằng tại sao thầy làm người xuất gia? Tôi đã không trả lời câu hỏi đó mà lại hỏi rằng tại sao anh lại không làm người xuất gia?
Nếu anh biết được lí do vì sao anh không xuất gia thì anh sẽ hiểu được vì sao tôi lại xuất gia. Hỏi về đạo lý trong Phật pháp cũng như vậy, thay vì quý vị hỏi làm sao mà tôi hiểu được đạo lý ấy thì quý vị hãy tự hỏi lại chính mình tại sao mình không hiểu được. Khi quý vị đã hiểu được tại sao mình không biết thì quý vị sẽ hiểu được tại sao tôi lại biết được đạo lý ấy.
Nay quý vị đều là những người có nhiều thiện căn nên được dự pháp hội giảng chú đại bi, vậy quý vị phải nên hộ trì bảo trọng cho thiện căn của mình, tự mình phải khéo vận dụng thiện căn ấy để tu học và liễu nhập Phật pháp đừng để hoài phí một phút giây nào cả. Hiện tại chúng ta đang sống vào thời mạc pháp chư Phật và Bồ Tát rất ít thị hiện ở thế gian, thời gian này lòng người đang tiến dần đến chỗ hoang liêu điêu tàn không dễ gì gặp được chánh pháp cũng không dễ gì gặp được bậc chân thiện tri thức.
Có lần tôi bảo các đệ tử rằng ở Đài Loan có mở đại giới đàn, năm huynh đệ các con nên đến đó cầu thỉnh để được thọ giới pháp, các đệ tử gửi thư cho tôi biết nhiều người ở Đài Loan nói với họ rằng chẳng cần phải tu hành gì cũng có thể thành tựu đạo nghiệp. Các đệ tử của tôi trả lời rằng chúng tôi cũng là những con người như những con người khác, nếu không chịu tu hành thì làm sao có thể tựu thành Phật đạo.
Nếu không công phu hành trì thì làm sao liễu ngộ được chánh pháp, nếu quý vị nói rằng không cần phải dụng công tu tập mà cũng thành Phật, liễu đạo thì trước đây đức Phật chẳng cần vào núi tuyết tu suốt sáu năm làm gì, rồi sau đó đến ngồi dưới cội bồ đề tinh chuyên thiền định suốt 49 ngày đến khi sao mai vừa mọc thì ngài tựu thành chánh giác.
Đức Phật còn phải tu hành mới thành tựu chánh giác còn mọi chúng sinh như chúng ta nếu không tinh tấn tu hành thì làm sao có thể thành Phật được. Ai ai cũng đều biết phải nhờ vào tu hành mới đạt được Phật quả nhưng người chân thật tu hành thì rất ít và ai cũng đều biết nếu không chịu tu hành thì đều có thể bị đọa vào địa ngục, nhưng người không chịu tu hành thì không sao kể siết.
Nghiệp lực thế gian thật là không thể nghĩ bàn, quý Phật tử sống trong thời mạc pháp mà có được điều kiện để nghiên cứu Phật pháp thì nên dũng mãnh tinh tấn lên, không nên biếng nhát hãy siêng năng công phu tinh cần đạo nghiệp mới mong có ngày thành tựu. Nếu không tinh tấn dũng mãnh mà mong thành tựu đạo nghiệp thì không thể nào có được, vì thế nên quý vị đừng ngại gian nan khổ nhọc chướng duyên tai ách mọi thứ nên quên, phải đánh trống dũng mãnh lên để cho tinh thần phấn chấn chỉ một hướng thẳng đến công phu mới mong có ngày thành tựu quả vị Phật.
Tôi đang nói về sự vi diệu của Phật pháp, nếu quý vị không phát khởi niềm tin vào trí tuệ siêu việt thì đạo lý này đối với quý vị cũng chẳng có lợi ích gì. Quý vị có thể thâm nhập Phật pháp từ mọi sinh hoạt trong cuộc sống từ mỗi bước chân lặng lẽ của thời gian trong toàn thể pháp giới. Trong Phật pháp điều gì quý vị cũng muốn diễn bày cho rõ ràng minh bạch thì thường bị đánh mất những lý sâu mầu vi diệu.
Nay dù tôi có trình bày hết diệu lý của Phật pháp nhưng nếu quý vị không tin sâu và không hành trì thì điều tôi giảng không còn là diệu pháp nữa. Hơn nữa sự hành trì cần phải thường xuyên vào mọi lúc mọi nơi với tinh thần tinh tấn không lui sụt không biếng nhác đây là điều khẩn thiết nhất, nếu quý vị mọi thời mọi lúc đều hướng về phía trước mà nỗ lực công phu thì nhất định một ngày kia sẽ trực nhận ra mặt mày xưa cũ của chính mình.
Bàn đà sa mế dịch nghĩa là đại quang minh hay trường chiếu minh tiêu biểu cho nghĩa thứ năm trong mười nghĩa của tâm đó là quán tâm không, thông qua quán tâm không hành giả mới có được trí tuệ, với trí tuệ hành giả mới có được quang minh, có được quang minh mới tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới được tức là không còn tối tâm mê muội tức là không còn vô minh.
Sao gọi là vô minh? Vì tâm của quý vị không có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới. Do vì quý vị không có được đại quang minh, nếu quý vị có được đại quang minh thì tâm quý vị liền có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quý vị đã chuyển hoá được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển hoá sạch rồi thì pháp tánh hiển hiện. Đây chính là trí tuệ chân thật của quý vị.
Thuở xưa vào triều đại nhà Lương ở trung hoa có thiền sư Chí Công là một bậc đại đức cao tăng, không sử sách nào ghi lại song thân của thiền sư lại ai. Người ta thường kể với nhau rằng một hôm nọ có người phụ nữ nghe tiếng khóc của một hài nhi trên cành cây cao, cô ta trèo lên thấy một hài nhi nằm trong tổ chim ưng bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy thân thể hài nhi này hoàn toàn giống như người thường nhưng những móng tay móng chân giống như móng chim ưng.
Khi trưởng thành xuất gia tu đạo chứng được ngủ nhãn lục thông, không biết Cha Mẹ ngài là ai chỉ biết ngài sinh trong tổ chim ưng nên mọi người đều phỏng đoán ngài được sinh ra từ trứng chim ưng vậy. Thời ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như mọi người đều rất kính trọng và tin phục các thiền sư, bất luận khi họ gặp những sự kiện gì trong đời sống như sinh con Cha Mẹ qua đời cưới hỏi họ đều cung thỉnh các thiền sư đến để tụng kinh chú nguyện.
Một hôm có một gia đình giàu có thỉnh thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ đồng thời thỉnh thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để mong rằng trong tương lai việc hôn nhân đều được tốt lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể ngài liền nói thật cổ quái thật cổ quái cháu cưới Bà Nội thật cổ quái. Nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy, đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra.
Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới Bà Nội mình làm vợ, trên thế gian này nếu không thông đạt những nhân duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan hệ Cha con Mẹ con vợ chồng anh em bè bạn của nhau. Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước, một người có thể là Cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước, hoặc một người đều làm Mẹ và con gái của nhau trong đời trước, Ông Nội của quý vị trong đời trước lại kết hôn với con gái của quý vị trong đời này hoặc là Bà Ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quý vị.
Tất cả mọi việc đều có thể xảy ra và đều chịu sự biến hóa khôn lường, trong nhà này chuyện cháu cưới Bà Nội là do trước kia khi Bà Nội sắp mất bà trăng trối lại với toàn gia quyến, con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nói dòng, con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa. Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên ngoại trừ một điều, còn đứa cháu nội tương lai rồi sẽ ra sao.
Ai sẽ chăm sóc nó, liệu người vợ của nó có đảm đang hay không, ta không thể nào không lo cho nó được, bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu mọi việc đều toại nguyện lúc lâm chung có được tâm trạng thơi thới thì người chết sẽ nhắm mắt, còn nếu không thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói bà rất lo lắng cho cháu bà chết không nhắm mắt được, nói xong bà ra đi mà mắt vẫn mở thần thức của bà vẫn còn lo âu.
Khi đến gặp Diêm Vương bà ta than khóc thưa rằng tôi còn đứa cháu nội không ai chăm sóc nó. Diêm Vương đáp, được rồi bà hãy trở lại dương gian chăm sóc cho nó. Nói xong, bà ta được đầu thai trở lại ở trong cõi trần, khi đến tuổi thành hôn bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà, vì vậy nên nói cháu lấy bà nội. Quý vị thấy có phải là cổ quái thật không? Chỉ vì một niệm ái luyến không buông xã được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau.
Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu mà về sau phải làm vợ cho nó, quý vị thử nghĩ lại xem đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay sao? Quý vị sẽ hỏi làm sao mà thiền sư Chí Công biết được điều ấy? Thiền sư biết được là vì ngày đã đạt được ngũ nhãn và lục thông nên chỉ cần nhìn qua là ngài liền biết được ngay kiếp trước của cô dâu vốn là bà nội của chú rễ. Chỉ vì bà nội đã khởi một niệm ái luyến sai lầm nên nay phải đầu thai trở lại làm người và làm vợ của đứa cháu nội mình.
Một niệm lành còn như thế huống gì là niệm ác hoặc khởi trùng trùng niệm ác thì luân hồi trong tam đồ lục đạo biết bao giờ dứt biết bao giờ mới mong ra khỏi. Thiền sư lại nhìn trong số khách đến dự đám cưới có một bé gái đang ăn thịt ngài nói, con gái ăn thịt Mẹ vì miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này vốn là Mẹ của em bé đầu thai lại, kiếp trước bà ta đã tạo nghiệp ác quá lớn nên phải đọa làm dê, nay lại bị chính con mình ăn thịt.
Vòng oán nghiệp khởi dậy do vô minh của chúng sinh không lời nào kể hết được, chư Bồ Tát thương xót phát tâm cứu độ chúng sinh là do điểm này. Khi thiền sư nhìn các nhạc công thấy có vị đang đánh trống ngài nói, con trai đang đánh bố vì cái trống ấy bịt bằng da lừa, con lừa này chính là Cha của anh nhạc công đầu thai vào con lừa này bị giết thịt lấy da là mặt trống, thật là đau thương cho kiếp luân hồi.
Ngài nhìn quanh đám cưới nói tiếp heo dê ngồi ở trên, ngài thấy có vô số loài heo cừu dê gà được đầu thai trở lại làm người nay họ đều là bà con thân quyến của nhau nên cũng đến dự đám cưới này. Nhìn trong bếp ngài nói, lục thân bị nấu trong nồi chính là Cha Mẹ anh em bà con bè bạn do kiếp trước đã sát sinh heo gà quá nhiều để ăn, nay lại bị đọa làm heo dê gà trở lại rồi bị giết thịt bỏ vào nồi chiên nấu trở lại. Ngài nói tiếp, mọi người đều vui vẻ chúc mừng nhau, mọi người đến dự đám cưới đều rất vui vẻ mà chúc tụng nhau.
Ngài tự than với lòng mình rằng trông thấy cảnh ấy mà lòng đau xót, ta biết đó chính là những oán nghiệp xoay dần vay trả tạo nên nỗi khổ chất chồng. Thiền sư Chí Công biết rõ nhân quả khi nhìn vào gia đình này, làm sao chúng ta có thể hiểu được hết chuỗi nhân quả của từng gia đình với trùng trùng khác biệt nhau ra sao, cho nên những người tu đạo phải rất cẩn trọng trong khi tu nhân vì khi nhân duyên chín mùi thì sẽ gặt lấy quả tương ứng với nhân đã gieo.
Tại sao người lại trở lại làm người? Là để trả nợ, trả những món nợ nhân quả ở thế gian. Nếu quý vị không tìm cách trả món nợ này thì nợ nần vẫn tiếp tục như món nợ đã vay của ngân hàng vậy. Tôi nhớ một câu chuyện này nữa, có một gia đình nuôi một con lừa dùng nó để kéo cối xay và chuyên chở, người chủ thấy lừa quá chậm chạp nên thường dùng roi đánh nó để thúc dục.
Con lừa làm việc miệt mài trong cực nhọc cho đến chi chết, nó được đầu thai làm người, khi người chủ hay đánh đập lừa chết lại đầu thai làm một người phụ nữ, khi cả hai người này đến tuổi thành hôn thì họ cưới nhau. Quý vị có biết cặp vợ chồng này sống với nhau như thế nào không? Suốt ngày người chồng đánh đập người vợ, ông đánh vợ bất kỳ lúc nào bất luận đang cầm vật gì trên tay cả lúc đang ăn cơm cũng đánh vợ bằng đũa, ông ta vừa đánh vừa chửi cho dù người vợ chẳng làm điều gì sai trái.
Một hôm thiền sư Chí Công đi qua nhà họ, người phụ nữ bèn thưa với ngài. Chồng con ngày nào cũng đánh và chửi con quá chừng mà con không biết tại sao, bạch ngài xin ngài hãy dùng ngũ nhãn lục thông bảo cho con biết mối tương quan nhân quả của chúng con đời trước ra sao mà đời nay chồng con đánh đập và chửi mắng con hoài vậy.
Thiền sư Chí Công đáp, tôi sẽ nói rõ tương quan nhân quả của hai người cho mà nghe, trong đời trước bà là một người đàn ông ngày nào bà cũng đánh đập chửi mắng con lừa thúc dục nó phải kéo cối xay bột, ông chủ ấy thường đánh con lừa bằng cái chổi tre, nay ông chủ được đầu thai lại làm người phụ nữ đó chính là bà còn con lừa thì được đầu thai làm người chồng. Nay ông ta thường hay đánh đập chửi mắng bà cũng như kiếp trước bà đã thường đánh chửi ông tức là con lừa vậy.
Nay bà đã hiểu rõ nhân quả tương quan với nhau rồi tôi sẽ bày cho một cách để chấm dứt vòng oán nghiệp này. Bà mới cất dấu tất cả mọi dụng cụ trong nhà ngoại trừ cái chổi đuôi ngựa chổi dây, khi người chồng thấy chẳng còn vật gì dùng để đánh cô anh ta sẽ cầm chổi dây này để đánh, cứ để cho anh ta đánh vài trăm roi thì nợ cũ của bà mới được trả, lúc đó bà mới báo cho anh ta biết nhân đời trước và quả đời sau báo ứng với nhau rất rõ ràng như tôi vừa giải thích cho bà, anh ta sẽ không còn đánh bà nữa.
Người phụ nữ làm đúng như lời thiền sư Chí Công chỉ dạy, khi người chồng về đến nhà ông ta liền kiếm vật gì đó để đánh vợ chỉ còn thấy chiếc chổi đuôi ngựa ông ta cầm lấy và đánh, thông thường như mọi khi cô ta tìm cách chạy trốn nhưng lần này cô ta kiên nhẫn ngồi đó chịu đòn cho đến khi ông chồng ngừng tay. Thấy lạ ông ta hỏi tại sao bà không bỏ chạy? Cô ta kể lại việc được thiền sư Chí Công giải thích cặn kẽ tương quan nhân quả của hai người.
Ông chồng nghe xong ngẫm nghĩ, như thế thì từ nay ta không nên đánh chửi cô ta nữa, nếu còn đánh thì kiếp sau cô ta sẽ đầu thai trở lại rồi tìm ta để đánh chửi, từ đó ông chồng không còn đánh mắng người vợ nữa. Thế nên, quý vị phải biết mọi người đều có sự quan hệ với nhau tương ứng với nhân đã tạo, quý vị chẳng thể nào biết được trong đời trước ai đã từng làm Mẹ là anh là Cha hay là chị em của mình. Cái nhân đã tạo ở đời trước sẽ tạo thành quả đời này và nhất định có liên quan đến bà con quyến thuộc của mình.
Nếu quý vị hiểu được đạo lý nhân quả thì quý vị có thể chuyển hoá biến cải được nhân bằng cách từ bỏ những việc ác. Còn một chuyên nữa về thiền sư Chí Công, một ngày ngài ăn hai con chim bồ câu, ngài rất thích món ăn này. Người đầu bếp nghĩ rằng món thịt bồ câu chắc là rất ngon nên ngày nọ anh ta quyết định nếm thử.
Anh ta làm việc này với hai ý nghĩ, một mặt là muốn thử xem thức ăn hôm nay mình làm con ngon hay không, một mặt khác anh ta nghĩ rằng ngài Chí Công ngày nào cũng thích ăn bồ câu nhất định đây là một món ăn rất ngon nên muốn thưởng thức một chút rồi mới đem đến cho thiền sư dùng. Khi người đầu bếp mang thức ăn đến ngài nhìn đĩa thức ăn và hỏi, hôm nay có ai nếm trộm thức ăn này có phải chính anh không?
Người đầu bếp liền chối, thiền sư liền bảo anh còn chối tôi sẽ cho anh thấy tận mắt ai là người nếm trộm hãy nhìn đây. Ngài liền ngồi ăn, ăn hết hai con bồ câu rồi ngài liền há miệng rộng, trong đó một con bồ câu liền vỗ cánh bay ra còn con kia thì bị mất một cánh không thể bay lên được. Thiền sư mới bảo, anh thấy đó nếu anh không nếm trộm thì tại sao con bồ câu này không thể bay được, chính là vì ông đã ăn hết một cánh của nó.
Chuyện này làm cho anh đầu bếp biết thiền sư Chí Công không phải là người thường, ngài chính là hóa thân của Bồ Tát thế nên ngài có năng lực biến những con bồ câu bị nấu thành thức ăn rồi thành bồ câu sống, không phải là Bồ Tát không làm chuyện này được. Thiền sư Chí Công còn thường ăn một loại cá gọi là tuệ ngư, cũng đem cá ra nấu nướng rồi ngài ăn từ đuôi lên đầu nhưng sau đó ngài lại há miệng ra làm cá sống lại.
Vì vậy những việc này là rất thường đối với cảnh giới của hàng Bồ Tát, thiền sư Chí Công là một vị Bồ Tát nhưng không bao giờ ngài nói các ngươi biết không, ta là một vị Bồ Tát ta đang giáo hóa chúng sanh ta có đại nguyện này hạnh nguyện kia. Các vị không bao giờ móng khởi ý niệm ấy cho nên chúng ta là hàng phàm phu dù có thấy chư Phật hay Bồ Tát cũng không thể nào nhận biết được.
Việc làm của Bồ Tát cũng gần như hành xử của người thường nhưng thực chất là không giống nhau, là vì phàm phu khi hành động chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình không nghĩ đến sự giúp đỡ cho người khác, còn Bồ Tát thì chỉ nghĩ đến lợi ích của người khác mà không nghĩ đến mình, khác nhau là ở điểm này. Bồ Tát thì tự làm lợi ích cho mình còn lo làm lợi ích cho người khác, tự giác ngộ mình xong rồi giúp cho người khác giác ngộ tự độ hoàn toàn lợi tha hoàn toàn. Ý nghĩa của chú đại bi mà tôi đang giảng cũng nằm trong đạo lý này vậy.
Tát bà a tha đậu du bằng. Câu chú này chia làm ba phần khi trì tụng lên câu chú có ba nghĩa khác nhau, tát bà có nghĩa là tất cả còn có nghĩa là bình đẳng nên tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm là bình đẳng tâm, a tha đậu dịch nghĩa là phú lạc vô bần giàu có an lạc không nghèo nàn về tâm linh đạo lý Phật pháp còn dịch nghĩa là như ý bất diệt. Như ý nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành tụ, bất diệt nghĩa là sự thành tụ do nguyện ấy vĩnh viễn không tiêu mất. Trong mười loại tâm thì đây là vô vi tâm nghĩa là phú lạc vô bần và như ý bất diệt.
Du bằng dịch là nghiêm tịnh vô ưu là thanh tịnh và trang nghiêm, trang nghiêm lại thêm thanh tịnh cho nên không có sự lo phiền ưu não. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ chín vô kiến thủ tâm, kiến thủ là một trong năm món ngũ lợi sử nghĩa là khi quý vị vừa trông thấy một vật gì tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt giữ lấy. Nên với tâm thứ chín vô kiến thủ tâm là trạng thái không có mảy may vọng động về sự chấp thủ đối với pháp và ngã đối với chủ thể cũng như khách thể đối với ngoại cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm.
A thệ dựng, a thệ dựng là tiếng Phạn dịch nghĩa vô tỷ pháp không có pháp nào có thể so sánh được với pháp này, còn có nghĩa là vô tỷ giáo nghĩa là không có đạo giáo nào có thể so sánh được. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ bảy được gọi là ti hạ tâm, là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp. Câu chú này còn biểu tượng cho tâm thứ tám gọi là vô tạp loạn tâm.
Đây chính là pháp thanh tịnh không chút cấu nhiễm chính là pháp bát nhã tâm của Quán Thế Âm Bồ Tát, mười loại tâm này là tướng của Đà La Ni chúng ta phải đem những đạo lý này hành trì không xao nhãng và gián đoạn, chúng ta tu tập theo tinh thần của kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni thì chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp đắc thành chánh quả.
Tát bà tát đá, na ma bà tát đa, na ma bà dà. Tát bà tát đá là tiếng Phạn dịch là đại thân tâm Bồ Tát, na ma bà tát đa hán dịch là đồng trinh khai sĩ là tên gọi khác của Pháp Vương Tử cũng là hàng Bồ Tát. Đồng trinh là biểu tượng cho bản tánh còn khai sĩ cũng là một danh hiệu khác của Bồ Tát có nơi gọi là đại sĩ, các vị Bồ Tát lúc sắp thành tựu Phật quả đều được gọi là Pháp Vương Tử, tên gọi của hàng thập địa Bồ Tát.
Na ma bà dà hán dịch là vô đẳng đẳng giống như ý nghĩa trong Bát Nhã Tâm Kinh, cố tri Bát Nhã Ba La mật đa thị đại thần chú thị đại minh chú thị vô thượng chú vô đẳng đẳng chú. Quý vị có thể hỏi cái gì không thể sánh bằng? Đó là bà dà hán dịch là Thế Tôn, bà dà là chư Phật thường trụ ở khắp trong mười phương.
Ma phạt đạt đậu. Ma phạt đạt đậu dịch nghĩa là thiên thân thế hữu, câu chú này có nghĩa là kính lạy chư Bồ Tát, xin hãy mủi lòng từ bi cứu giúp con xin các ngài hãy là thân quyến ở cõi Trời của chúng con và là người bạn ở cõi thế gian này của chúng con để hộ trì cho mọi thiện pháp được thành tựu. Câu chú này thỉnh nguyện sự gia trì của mười phương chư Phật và chư Bồ Tát.
Đát điệt tha án, trong Bát Nhã Tâm Kinh có nói cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú tức thuyết chú viết. Đát điệt tha hán dịch là tức thuyết chú viết còn dịch là sở vị. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng tâm đại bi mà nói ra chơn ngôn này, nói bằng các chủng tự của phạm thiên. Đát điệt tha còn có nghĩa là thủ ấn nghĩa là kết ấn bằng tay cũng gọi là trí nhãn, nghĩa là khai mở con mắt trí tuệ của chúng sinh.
Đát điệt tha lại còn có ý nghĩa là vô lượng pháp môn tu học và trí huệ nhãn cũng vô lượng đó là ý nghĩa của sở vị. Chữ án như đã nói ở trước, khi quý vị trì niệm đến chữ án thì quỷ thần đều phải chấp tay cung kính lắng nghe người niệm chỉ giáo, chữ án còn có công năng lưu xuất nhiều pháp môn sau đây.
A bà lô hê, a bà lô hê chính là Bồ Tát Quán Thế Âm có nghĩa là quán sát, dùng trí tuệ để quán sát mọi âm thanh ở thế gian. Trong thế gian có nhiều loại âm thanh, Bồ Tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh tiếng kêu than cầu xin cứu khổ của người ở thế gian khi họ không thể vượt qua nỗi những khổ nạn.
Lô ca đế, lô ca đế nghĩa là tự tại hoặc là Thế Tôn, hợp lại hai câu trên a bà lô hê lô ca đế nghĩa là Bồ Tát dùng trí tuệ để quán sát âm thanh ở thế gian chính là danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Ca ra đế, ca ra đế dịch là bi giả là người có lòng từ bi rộng lớn thường cứu giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau và thất vọng, người mà có thể cứu giúp cho chúng sinh vơi bớt khổ đau là một người đại bi. Ca ra đế còn có nghĩa là tác giả, người có thể làm cho đạo nghiệp sinh khởi giúp cho mọi chúng sinh đều phát tâm bồ đề phát nguyện làm những việc khó làm như hành Bồ Tát đạo để tiến tới tựu thành Phật quả.
Di hê lị. Di hê lị dịch nghĩa là thuận giáo, khi quý vị trì tụng đến câu chú này nghĩa là quý vị tự phát nguyện con nhất quyết thực hành theo hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ giáo hóa cho tất cả chúng sinh, con nguyện nương theo giáo pháp ngài đã dạy mà tu hành. Di hê lị còn có nghĩa là y giáo phụng hành nương theo lời dạy của Bồ Tát Quán Thế Âm cũng như Quán Thế Âm của tự tâm để thực sự tu trì.
Ma ha bồ đề tát đỏa. Ma ha có nghĩa là đại là to lớn, bồ đề có nghĩa là giác đạo là giác ngộ được đạo lý chân chính, tát đỏa hán dịch là đại dũng mãnh giả, câu này có nghĩa chư vị Bồ Tát là người phát tâm đại bồ đề rất dũng mãnh và phát tâm tu hạnh bồ đề. Phát bồ đề tâm nghĩa là gieo trồng nhân giác ngộ, tu bồ đề hạnh là vun trồng tưới tẩm cho hạt giống bồ đề đã gieo được nảy mầm rồi mới mong gặp được quả giác ngộ, tức là quả vị vô thượng bồ đề đây là ý nghĩa của câu chú ma ha bồ đề tát đỏa.
Câu chú này thuyết minh về công hạnh trang nghiêm viên mãn của chư vị Bồ Tát là do định huệ song tu, khi định đã lắng trong thì huệ cũng được chiếu sáng khi huệ đã viên mãn thì định viên dung. Vì Bồ Tát Quán Thế Âm đã đạt được định lực viên mãn nên xuất sinh trí tuệ sáng suốt, vì Bồ Tát đã đạt được trí tuệ viên mãn nên ngài mới đạt được định lực lắng trong, không có định thì chẳng có huệ và không có huệ thì chẳng đạt được định nên gọi định huệ không hai là vậy.
Do nhờ tu tập vô số công hạnh mà Bồ Tát được trang nghiêm thân tướng nên chư vị không rời bỏ một pháp nào dù nhỏ bé hoặc vô cùng vi tế, dù một việc thiện nhỏ nhất cho đến lớn nhất chư vị Bồ Tát điều hoàn tất chu đáo nên kinh có dạy chớ khinh việc thiện nhỏ mà không làm chớ xem thường việc ác nhỏ mà không tránh. Các vị Bồ Tát thường siêng năng làm các điều thiện và dứt khoát từ bỏ các việc ác,.
Chư vị phát bồ đề tâm và đạt được quả vị giác ngộ vô thượng bồ đề, chư vị trang nghiêm pháp thân bằng vô số công hạnh, chư vị phát đại bi tâm thực hành đại pháp vô biên từ tùy theo tâm lượng của chúng sinh mà làm Phật sự, nhưng chính các vị Bồ Tát tự bản tánh và bản thề của các ngài không hề gợn một mảy may tướng trạng của chúng sinh tâm, các ngài tự thấy mình và toàn thể chúng sinh có đồng một thể tánh không hề phân hai, các ngài không chỉ chịu khổ cho riêng mình mà ước nguyện giúp cho chúng sinh thoát khỏi mọi khổ lị.
Dù các ngài chuyển hóa tất cả mọi sự thống khổ cho chúng sinh mà không hề dính mắc chút nào vào việc mình có độ thoát cho chúng sinh, các ngài không bao giờ tự cho rằng tôi đã cứu độ cho anh rồi nay anh phải cám ơn tôi, tôi đã giúp anh thoát khỏi mọi phiền não anh phải tỏ ra biết ơn tôi. Chính vì chư vị Bồ Tát không có tâm niệm như vậy nên các ngài mới có thể ứng hiện 32 thân tướng để kịp thời đáp ứng mọi tâm nguyện của mọi loài chúng sinh.
Chẳng hạn như cần ứng hiện thân Phật để độ thoát chúng sinh thì chư vị Bồ Tát liền ứng hiện thân Phật để giảng dạy giáo pháp cho chúng sinh khiến họ được giải thoát, nếu cần thiết hiện thân Bích Chi Phật thì các ngài liền ứng hiện thân Bích Chi Phật để giáo hóa chúng sinh giúp họ được giải thoát. Cũng như vậy, các ngài có thể ứng hiện thân A La Hán vua chúa để giúp cho chúng sanh được độ thoát.
Chư vị Bồ Tát có khả năng hóa hiện thành 32 ứng thân để cứu độ các loài chúng sinh, các ngài cũng có được 14 pháp vô úy và bốn pháp bất khả tư nghì đó là bốn loại thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn, các ngài đã chứng đạt được quả vị chân thật viên thông đã thành tựu quả vị vô thượng bồ đề. Đó là sự thành tựu quả vị của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Tát bà tát bà, tát bà tát bà hán dịch là nhất thiết lợi lạc, câu chú này bao hàm cả bảo thủ nhãn ấn pháp nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người. Bằng cách hành trì ấn pháp này quý vị có khả năng đem sự an vui lợi lạc đến cho hết thảy mọi loài chúng sinh, Thiên Vương Diêm Vương Quỷ Vương đều chấp hành theo người trì tụng ấn chú này. Quý vị bảo họ hãy thả tội nhân này ra thì Diêm Vương liền tức khắc thả ra liền vì sao vậy? Vì quý vị đã có được bảo ấn này.
Bảo ấn này cũng như ấn của vua vậy, trên chiếu thư có ngọc ấn của vua thì khắp thiên hạ ai có trách nhiệm gì cũng phải tuân theo chiếu thư mà thi hành, không ai dám chống lại. Với bảo ấn quý vị có thể làm lợi lạc an vui cho mọi loài chúng sinh, quý vị có thể chỉ bảo cho họ biết sự lợi lạc để phát nguyện hành trì và sẽ đạt được sự an lành, vì vậy nên gọi là nhất thiết lợi lạc. Người trung hoa đều biết có một vị tiên biết sử dụng một ấn chú gọi là phiên thiên ấn, người con của Quảng Thành Vương cũng có một phiên thiên ấn chính là ấn này vậy. Đạo Lão gọi là phiên thiên ấn Bồ Tát Quán Thế Âm gọi là bảo ấn.
Nếu quý vị dụng công hành trì thì nhất định sẽ thành tựu bảo ấn này, khi thành tựu rồi nếu có người vừa mới chết hoặc sắp chết quý vị chỉ cần trì ấn này vào một tờ giấy và viết vài dòng cho Diêm Vương, hãy tha cho người này sống lại ngay hãy tha cho anh ta trở về dương gian, Diêm Vương không dám từ chối. Diệu dụng của bảo ấn có thể giúp cho người chết sống lại, nhưng để sử dụng được bảo ấn này trước hết quý vị phải thành tựu công phu tu tập đã.
Nếu công phu chưa thành tựu thì chẳng có kết quả gì. Thế nào nghĩa là thành tựu công phu tu hành? Cũng giống như đi học, trước hết quý vị phải vào tiểu học rồi lên trung học rồi thi vào đại học rồi cuối cùng có thể được học vị tiến sĩ. Tu tập để thành tựu bảo ấn này cũng như đạt được học vị tiến sĩ vậy, nhưng tạm ví dụ vậy thôi chứ bảo ấn này không có gì so sánh được.
Tát bà tát bà nghĩa là lợi lạc cho tất cả mọi loài chúng sinh, quý vị thấy sự dịu dụng vô biên đến như thế nên gọi ấn này là bảo ấn. Nếu quý vị muốn sử dụng được bảo ấn này thì phải công phu tu trì qua cả 42 thủ nhãn, tát bà tát bà chỉ là một trong 42 ấn pháp ấy thôi. Có người nghe tôi giảng như vậy sẽ khỏi nghĩ rằng ta sẽ tu tập bảo ấn này ngay để bất kỳ lúc nào có người sắp chết ta sẽ sử dụng ấn này ra lệnh cho Diêm Vương không được bắt người ấy chết.
Quý vị cứ thực hành, quý vị có thể giúp người kia khỏi chết nhưng đến khi quý vị phải chết thì chẳng có người nào giúp quý vị thoát khỏi chết bằng bảo ấn này cả. Tôi đã có dịp sử dụng ấn này hai lần, một lần ở Mãn Châu và một lần ở Hương Cảng. Lần ở Mãn Châu là trường hợp cứu một người sắp chết, người này chắc chắn sẽ chết nếu tôi không sử dụng bảo ấn này. Vào một chiều trời mưa ngày 18 tháng tư âm lịch, một người tên là Cao Đức Phúc đến chùa Tam Duyên nơi tôi đang ngụ.
Anh ta quỳ trước tượng Phật cầm một cây dao bọc trong giấy báo chuẩn bị sẵn sàng chặt tay để cúng dường chư Phật. Quý vị nghĩ sao? Anh ta khôn ngoan hay không? Dĩ nhiên là quá ngu dại, tuy nhiên sự ngu dại của anh ta lại xuất phát từ lòng hiếu đạo. Quý vị biết không, Mẹ anh ta bị bệnh trầm trọng gần chết do vì thường ngày Mẹ anh ta nghiện thuốc phiện nặng, nhưng bệnh bà quá nặng đến mức hút thuốc phiện cũng không được nữa, bà ta nằm co quắp chẳng ăn uống gì đầu lưỡi đã trở sang màu đen môi miệng nước nẻ, bác sĩ đông tây y đều bó tay không hi vọng gì còn chữa trị được.
Nhưng người con trai của bà nguyện lạy Bồ Tát rất linh cảm, con nguyện đến chùa Tam Duyên chặt tay cúng dường chư Phật với lòng chí thành con nguyện cho Mẹ con được lành bệnh. Ngay khi chàng trai sắp chặt tay có người nắm tay anh ta lôi lại đằng sau rồi nói, anh làm gì vậy anh không được vào đây mà tự sát. Anh ta trả lời tôi chỉ chặt tay cúng dường chư Phật cầu nguyện cho Mẹ tôi được lành bệnh ông đừng cản tôi.
Chàng trai chống lại nhưng người kia không để cho anh ta chặt tay nên liền cho người báo cho hòa thượng trụ trì biết, hòa thượng cũng không biết phải là sao ngài liền phái cư sĩ Lý Cảnh Hoa người hộ pháp đắc lực của chùa đi tìm tôi. Dù lúc ấy tôi vẫn còn là chú sa di, tôi được giao nhiệm vụ như là tri sự ở chùa Tam Duyên, chỉ với hòa thượng trụ trì tôi chỉ là một chú tiểu nhưng không giống như những chú tiểu cùng ăn chung nồi ngủ chung chiếu.
Tôi thức dậy trước mọi người và ngủ sau tất cả mọi người, tôi làm những việc mà không ai muốn làm và chỉ ăn một ngày một bữa trưa không ăn phi thời, tu tập chính là sửa đổi những sai lầm vi tế. Nếu khi chưa chuyển hóa được những lỗi lầm nhỏ nhặt ấy có nghĩa là mình còn thiếu năng lực trong công phu. Hòa thượng trụ trì giao việc đó cho tôi, tôi liền đến bạch hòa thượng Phật tử đến cầu hòa thượng cứu giúp nay hòa thượng lại giao cho con, hòa thượng làm cho con thật khó xử. Hòa thượng trụ trì bảo con hãy đem lòng từ bi mà cứu giúp họ.
Hòa thượng dạy những lời rất chí lý, tôi vốn chẳng ngại khó nhọc nên khi nghe những lời đó tôi rất phấn khích, tôi thưa bạch hòa thượng con sẽ đi. Tôi bảo chàng trai anh hãy về nhà trước tôi sẽ theo sau, anh ta nói nhưng thầy chưa biết nhà con. Tôi đáp đừng bận tâm về tôi hãy cứ về nhà trước. Lúc ấy là vào khoảng năm giờ chiều mặt trời vừa xế bóng, anh ta đi theo đường lộ chính còn tôi đi theo đường mòn, nhà anh ta cách chùa chừng sáu dặm.
Anh ta quá đổi sửng sốt khi về đến nơi anh ta đã thấy tôi ngồi đợi anh trong nhà. Bạch thầy sao thầy biết nhà con mà đến sớm vậy? Tôi nói có lẽ anh vừa đi vừa chơi hoặc anh ham xem bóng đá hay truyền hình gì đó, cậu ta đáp thưa không, con cố hết sức đi thật nhanh để về nhà. Tôi nói có lẽ xe đạp của anh đi không được nhanh như xe tôi nên tôi đến trước.
Ngay khi vào thăm bà mẹ tôi thấy không thể nào cứu sống bà ta được nhưng tôi vẫn quyết định cố gắng hết sức để cứu bà. Tôi dùng bảo ấn viết mấy dòng, chàng trai này có tâm nguyện rất chí thành nguyện chặt tay cúng dường chư Phật để cứu Mẹ sống, tôi đã ngăn cản anh ta chặt tay bằng mọi cách xin cho Mẹ anh ta được sống. Tôi gửi bảo ấn đi sáng hôm sau bà ta vốn đã nằm bất động suốt bảy tám ngày nay chợt ngồi dậy gọi con trai bằng tên tục, Phúc ơi Phúc ơi mẹ đói quá cho mẹ tí cháo. Chàng trai suốt bảy tám ngày nay không nghe mẹ gọi nay cực kỳ vui sướng.
Anh ta chạy đến bên giường nói với Mẹ, Mẹ ơi Mẹ đã nằm liệt giường suốt tám ngày nay bây giờ Mẹ khỏe rồi chứ. Bà ta trả lời chẳng biết bao lâu nữa Mẹ bị rược chạy trong một cái hang tối đen thăm thẳm không có ánh sáng mặt trời mặt trăng ánh sao hay đèn đuốc gì cả, Mẹ chạy và cứ chạy hết ngày này qua ngày khác để tìm đường về nhà mình, Mẹ có kêu nhưng chẳng ai nghe cho đến đêm hôm qua Mẹ mới gặp một vị sư khổ hạnh mang y cà sa đã mòn cũ, vị này đã dẫn Mẹ về nhà.
Con cho Mẹ ăn tí cháo loãn để cho đỡ đói, người con nghe mẹ nói đến vị sư liền hỏi nhà sư mà Mẹ gặp dung mạo như thế nào? Bà đáp ngài rất cao, nếu Mẹ được gặp lại mẹ sẽ nhận ra ngay. Lúc đó tôi đang nghĩ trên giường, anh ta liền đến bên tôi chỉ cho Mẹ và hỏi, có phải vị sư này không? Bà nhìn tôi chăm chú rồi kêu lên đúng rồi chính thầy là người đã đưa mẹ về nhà. Lúc đó toàn gia quyến chừng mười người gồm cả già trẻ đều quỳ xuống trước mặt tôi thưa.
Bạch thầy, thầy đã cứu Mẹ con sống lại nay toàn gia đình chúng con cầu xin được quy y thọ giới với thầy bất luận nhà chùa có việc gì con nguyện đem hết sức mình xin làm công quả và tuân theo lời chỉ dạy của thầy để tu hành. Về sau dân cả làng này đều đến chùa xin quy y và cầu xin tôi chữa bệnh cho họ, tôi bảo tôi chỉ có phép chữa bệnh bằng cách đánh đòn quý vị có chịu thì tui chữa. Họ đồng ý và tôi phải chữa, có nghĩa là bắt người bệnh nằm xuống đánh một người ba hèo bằng cái chổi tre, đánh xong tôi hỏi đã hết bệnh chưa? Thật là ngạc nhiên họ lành bệnh thật, đó là một chuyện phiền phức xảy ra ở Mãn Châu.
Lần thứ hai tui dùng bảo ấn này là ở Hương Cảng khi Cha của cô Madalena Lưu ở tuổi 79 bị bệnh, các vị bói toán đều bảo rằng ông ta chắc chắn sẽ qua đời trong năm này. Ông ta đến gặp tôi xin quy y Tam Bảo để cầu nguyện gia hộ cho ông được sống thêm ít năm nữa. Ông thưa bạch thầy xin thầy giúp cho con được sống thêm một thời gian nữa. Tôi bảo vậy là ông chưa muốn chết tôi sẽ giúp cho ông sống thêm 12 năm nữa được không?
Ông rất mừng vội đáp thưa vâng được như vậy thật là đại phúc. Rồi tôi chú nguyện cho ông ta và ông ta được sống thêm 12 năm nữa. Tuy nhiên quý vị không nên dùng ấn pháp này để giúp cho người ta khỏi chết hoặc là cứu họ sống lại khi họ đã chết rồi, nếu quý vị làm như vậy quý vị trở nên đối đầu với Diêm Vương. Lúc ấy Diêm Vương sẽ nói được rồi thầy đã giúp cho người ta khỏi chết nơi thầy phải thế mạng.
Đến khi quý vị gặp cơn vô thường chẳng có ai dùng bảo ấn này để giúp được cả, nếu quý vị nghĩ rằng mình có thể sử dụng bảo ấn để cứu mình khỏi chết là quý vị lầm. Diệu dụng của ấn pháp cũng giống như lưỡi dao tự nó không thể cắt đứt được chuôi dao của chính nó, nên khi quý vị gặp bước đường cùng thì cũng giống như chuyện vị Bồ Tát bằng đất nung, Bồ Tát bằng đất nung đi qua biển khó lòng giữ thân được vẹn toàn. Vậy nên nếu quý vị dù đã thông thạo trong khi sử dụng ấn pháp này cũng phải công phu hành trì thêm, vì lý do này mà tôi ít để ý đến việc riêng của người khác nữa.
Ma ra ma ra, hai câu chú này hán dịch là tăng trưởng cũng có nghĩa là như ý hoặc tùy ý, đó là công năng của như ý châu thủ nhãn làm tăng trưởng phước huệ, làm cho mọi việc đều được tốt lành như ý. Như ý nghĩa là tùy thuận với tâm nguyện mà được đáp ứng, quý vị có thấy lợi ích vô biên của ấn pháp này không? Vì vậy nên công năng ấn pháp này là thứ nhất trong 42 thủ nhãn ấn pháp.
Diệu dụng của như ý châu thủ nhãn vượt ngoài sự diễn tả bằng ngôn ngữ, nếu quý vị muốn giàu có hãy hành trì theo thủ nhãn ấn pháp này, một khi đã thành tựu rồi thì quý vị sẽ có được mọi thứ và không còn bận tâm gì nghèo khổ nữa, quý vị luôn luôn giàu có và được vô lượng phước lạc.
Ma hê ma hê rị đà dựng, ma hê ma hê hán dịch là vô ngôn cực ý. Vô ngôn nghĩa là không cần phải nói nữa, cực ý có nghĩa là ý niệm kia đã đạt đến chỗ tối thượng đã đạt chỗ vi diệu rồi. Ma hê ma hê cũng còn có thể dịch là tự tại, tự tại như Đại Phạm Thiên Vương không buồn không phiền không lo không giận suốt ngày đều được tự chủ và an vui. Đây là ngũ sắc vân thủ nhãn, khi kiết ấn này sẽ làm lưu xuất ra mây lành ngũ sắc và hành giả sẽ đạt được năng lực tự tại phi thường, diệu dụng và năng lực tự tại của ấn pháp này thật là vô lượng vô biên.
Rị đà dựng là thanh liên hoa thủ nhãn có nghĩa là liên hoa tâm, khi quý vị hành trì ấn pháp này thành tựu sẽ được mùi hương hoa sen xanh tỏa ra và được mười phương chư Phật tán thán. Sự vi diệu thật khó có thể nghĩ bàn, đúng là pháp Phật cao siêu thật nhiệm mầu trăm ngàn ức kiếp khó tìm cầu.
Cu lô cu lô kiết mông, cu lô cu lô hán dịch là tác pháp hoặc dịch là tác dụng trang nghiêm, lại còn có nghĩa là suy loa giải giới. Đây ta chính là bảo loa thủ nhãn ấn pháp, nay chúng ta đang sống trong thời mạc pháp nhiều người nghĩ rằng chỉ cần trì tụng chú đại bi là khế hợp với chân tinh thần Phật pháp rồi nhưng thực ra không phải thế. Chú đại bi là gọi thay cho 42 thủ nhãn ấn pháp và diệu dụng của chú đại bi là diệu dụng của 42 thủ nhãn ấn pháp, đó chính là toàn thể của chú đại bi.
Nếu quý vị chỉ biết trì niệm chú đại bi mà không hành trì 42 thủ nhãn ấn pháp thì như người có tay mà không có chân nên không thể đi được, mặt khác nếu quý vị chỉ biết hành trì 42 thủ nhãn ấn pháp mà không trì niệm chú đại bi thì cũng như người có chân mà không có tay không làm gì được cả cũng vô dụng mà thôi. Vậy nên để liễu triệt chú đại bi trước hết quý vị phải thông đạt 42 thủ nhãn ấn pháp rồi phải trì tụng chú đại bi nữa mới được gọi là người thành tựu rốt ráo diệu pháp này của chư Phật.
Không phải chỉ vừa mới nghe pháp sư giảng về chú đại bi xong rồi liền nói, à tôi đã hiểu được câu chú đó nghĩa là gì rồi. Hiểu như thế cũng chẳng ích lợi gì cả cũng giống như người có thân thể nhưng chẳng có tay chân gì cả, quý vị đã có đủ cả thân thể tay chân phải giúp cho chúng hoạt động phối hợp với nhau mới làm nên phước đức được. Bảo loa thủ nhãn ấn pháp là dùng để tác pháp, khi quý vị kiến lập đạo tràng quý vị nên dùng bảo loa ấn pháp này.
Khi quý vị tác pháp này thì những âm thanh vang lên tận cõi Trời thấu tận địa ngục khắp cõi nhân gian và khắp mọi nơi đều có ảnh hưởng, bất kỳ mọi nơi nghe đến âm thanh này đều ở trong sự điều khiển của người trì ấn pháp. Các loài yêu ma quỷ quái đều phải tuân phục không thể xâm hại, đây còn gọi là sự kiết giới. Ấn pháp này cũng còn gọi là tác dụng trang nghiêm có nghĩa là dùng cơn lốc quang minh tâm lực của bảo loa ấn pháp sẽ tạo nên một pháp âm vi diệu khiến cho đất bằng hóa thành vàng ròng đều được trang nghiêm bằng bảy thứ châu báu.
Thật là vi diệu khó thể nghĩ bàn, quý vị Phật tử đang tu học Phật pháp nên biết rằng trong 300 năm trở lại đây không có ai hành trì được 42 thủ nhãn ấn pháp và cũng chẳng có ai thông hiểu được các ấn pháp này. Nay chúng ta đã hiểu được chú đại bi chúng ta nên chí thành và phát tâm kiên cố hành trì 42 thủ nhãn ấn pháp này rồi sẽ có được diệu dụng. Kiết mông là tiếng Phạn vốn là ngôn ngữ của Đại Phạm Thiên chứ không phải là ngôn ngữ của Ấn Độ, nhưng văn pháp ngôn ngữ Ấn Độ cũng căng cứ trên ngôn ngữ của Đại Phạm Thiên.
Kiết mông là tiếng Phạn hán dịch là biện sự cũng dịch là công đức, có nghĩa là làm tất cả mọi việc có công đức lợi lạc cho mọi người, làm việc lợi lạc công đức cho mọi người cũng chính là tạo công đức cho chính mình. Bồ Tát thực hành hạnh tư lợi và lợi tha tự giác ngộ giải thoát cho mình và giác ngộ giải thoát cho người khác. Câu chú này nói đến sự thực hành lục độ và vạn hạnh đó chính là bạch liên hoa thủ nhãn ấn pháp.
Hãy tưởng tượng quý vị đang cầm trong tay đóa hoa sen trắng tay quý vị cầm cành hoa sen và miệng trì niệm chú kiết mông kiết mông, không những quý vị trì tụng chú mà còn hành trì mật ấn. Khi trì tụng cả hai pháp này quý vị mới có thể tạo nên mọi công đức, khi quý vị trì tụng chú đại bi đồng thời cũng thông hiểu được cách hành trì 42 thủ nhãn ấn pháp thì quý vị mới có thể thành tựu lục độ vạn hạnh.
Diệu dụng bất khả tư nghì không bao giờ nói hết được, nếu có thể nói được chỗ nhiệm mầu ấy thì nó phải có ngần mé mà những điều mầu nhiệm thì không có hạn lượng không có chỗ khởi đầu và kết thúc. Với sự trì niệm kiết mông quý vị có thể thành tựu được vô lượng công đức trong nhiều đời sau quý vị mãi mãi được trang nghiêm bởi hương thơm của hoa sen trắng và luôn luôn được hộ trì. Sự vi diệu mầu nhiệm của chú đại bi dù có tán thán cũng không bao giờ hết không bao giờ cùng tận.
Đồ lô đồ lô phạt xà da đế. Đồ lô đồ lô hán dịch là độ hải nghĩa là vượt qua biển khổ sinh tử còn dịch nghĩa minh tịnh, khi đã vượt qua biển khổ sinh tử rồi quý vị sẽ đạt được trí tuệ sáng suốt chứng nhập bản thể thanh tịnh đến được bờ bên kia, tức thể nhập Niết Bàn. Từ trong bản thể sáng suốt thanh tịnh ấy trí tuệ sẽ được lưu xuất, quý vị sẽ hiểu rõ được tất cả mọi pháp môn chắc chắn quý vị sẽ chấm dứt được vòng sinh tử.
Với đại định tâm quý vị hoàn toàn thanh tịnh đó là định lực, khi quý vị có được định lực chân chánh thì có thể vãng sanh ở cõi tịnh độ tươi sáng đó là thế giới cực lạc. Đây là nguyệt tịnh ma ni thủ nhãn ấn pháp là diệu pháp Đà La Ni do Bồ Tát Nguyệt Quang tuyên thuyết, ấn pháp nguyệt tịnh thủ nhãn này có công năng đưa mọi người đến chỗ sáng suốt và an lạc.
Phạt xà da đế là bàn bi thủ nhãn ấn pháp, phạt xà da đế hán dịch là quảng bát trang nghiêm còn có nghĩa là quảng đại cũng dịch là độ sinh tử. Nếu quý vị tu tập hành trì bàn bi thủ nhãn ấn pháp này thì quý vị có thể vượt qua biển khổ sinh tử có nghĩa là giải thoát, nếu quý vị không công phu hành trì ấn pháp bàn bi thủ nhãn này thì không thể nào vượt thoát bể khổ sinh tử đến bờ giải thoát Niết Bàn được.
Ma ha phạt xà da đế. Câu chú này có nghĩa là tối thắng đại Pháp Đạo, pháp là quảng đại tối thắng và đạo cũng quảng đại tối thắng. Pháp Đạo là chân lý vượt lên trên tất cả mọi sự thù thắng nhất trên đời, đây là bảo kích thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng hàng phục các loại thiên ma và ngoại đạo, công năng của ấn pháp này rất lớn chẳng hạn ấn pháp này có thể bảo vệ quốc gia chống nạn ngoại xâm, nếu quốc gia của quý vị sắp bị xâm lăng và nếu quý vị hành trì ấn pháp này thì vô hình chung quân giặc bắt buộc phải rút lui.
Đà la đà la. Tiếng Phạn rất khó hiểu ngay cả những ai đã học tiếng Phạn thông thạo rồi cũng khó có thể hiểu được mật chú và giảng giải rõ ràng được, tôi chỉ nhờ hiểu được chút ít thần chú đại bi mà thôi. Đà la đà la là tịnh bình thủ nhãn ấn pháp, trong tịnh bình này chứa nước cam lồ Bồ Tát Quán Thế Âm dùng cành dương liễu rưới nước cam lồ lên khắp chúng sinh trong sáu đường.
Bất luận ai gặp khổ nạn hay bệnh tật gì nếu được Bồ Tát Quán Thế Âm rưới nước cam lồ thì đều thoát khỏi tai nạn ấy. Đà la đà la hán dịch là năng tổng trì ấn là tâm lượng của toàn chúng sinh chính là Bồ Tát Quán Thế Âm dùng cam lồ thủ nhãn ấn pháp tịnh bình thủ nhãn ấn pháp và dương chi thủ nhãn ấn pháp, tất cả ba ấn pháp ấy để rưới nước cam lồ lên toàn thể chúng sinh cứu độ chúng sinh ra khỏi tam đồ lục đạo.
Địa rị ni, địa rị ni hán dịch rất nhiều nghĩa. Thứ nhất là thặm dũng nghĩa là dũng khí mãnh liệt cũng có nghĩa là tịch diệt hoặc khiết tịnh, thặm dũng là vạn tướng động, tịch diệt là vạn tĩnh còn dịch là gia trì và thôi khai, gia trì có nghĩa là làm cho các ác pháp đều được chuyển hóa hướng về phụng hành theo thiện pháp, thôi khai là làm cho các nghiệp chướng tai nạn của chúng sinh đều được tiêu trừ.
Đây là cu thi thiết câu thủ nhãn ấn pháp gọi tắt là thiết câu ấn pháp có công năng làm cho tất cả quỷ thần thiên long bát bộ đến hộ trì cho hành giả. Nếu quý vị công phu hành trì thành tựu thủ nhãn này thì có thể bảo thiên long làm mưa và sẽ có mưa ngay, nếu hành giả cần có gió họ sẽ làm ra gió ngay. Khi hành giả muốn mưa gió đừng hoành hành thế gian nữa mưa gió sẽ hết ngay.
Quý vị sẽ nói tôi không tin như vậy. Đúng vậy, đó chính là lý do mà tôi muốn nói cho quý vị nghe, tất cả chỉ là vì quý vị không tin không có niềm tin và không ở trong cảnh giới này thì khó lòng hiểu nổi. Nếu muốn quý vị có thể hỏi những người vừa mới từ Đài Loan trở về ngày hôm nay về cơn mưa ở Đài Loan. Khi tôi nói chuyện với Phật tử ở Đài Loan qua điện thoại họ cho biết trời đang mưa và rất lạnh, họ mong muốn thời tiết được ấm áp và bớt mưa, tôi bảo họ hãy yên tâm chuyện đó sẽ xảy ra.
Họ lại thắc mắc sư phụ có thể khiến trời hết mưa hay sao? Tôi chỉ nói vắn tắt quý Phật tử hãy đợi xem trời có tạnh mưa hay không, ngay khi tôi vừa cúp điện thoại thì trời bắt đầu tạnh ráo, họ đều cho đó là chuyện lạ kỳ. Thực ra đó chẳng phải là gì khác chính là năng lực của thiết câu thủ nhãn ấn pháp, quý vị chỉ cần kiết ấn và gọi Thiên Long đừng làm mưa nữa thì trời sẽ dứt mưa ngay.
Loài rồng sẽ chấp hành theo lệnh của quý vị, chỉ khi quý vị đã thành tựu ấn pháp này và đã thông thạo thiết câu thủ nhãn rồng phun mưa sẽ tuân theo ấn pháp này và đình chỉ việc làm mưa liền. Quý vị sẽ nghĩ là tôi nói đùa nhưng đúng là như vậy, bây giờ tôi đang giảng kinh cho quý vị nghe và tôi đang nói với quý vị bằng chân ngữ đây không phải là chuyện nói đùa.
Thất Phật ra da. Mỗi khi quý vị niệm thất Phật ra da thì toàn pháp giới này có một luồng chớp sáng phát ra, cứ mỗi niệm thất Phật ra da là có một luồng quang minh phóng ra bao trùm cả vũ trụ. Thất Phật ra da được dịch là phóng quang còn dịch là tự tại, phiên âm từ tiếng Phạn isara như trong chữ avalokiteshvara ở đây có nghĩa là quán, vì có quán chiếu thâm sâu rồi mới được tự tại. Nếu quý vị không có sức quán chiếu thâm sâu thì quý vị sẽ không đạt được năng lực tự tại.
Quán chiếu nghĩa là hướng vào bên trong tự tâm mà công phu chứ không phải hướng ra ngoại cảnh bên ngoài, nghĩa là hướng vào bên trong mà quán chiếu không ngừng. Hãy tự hỏi ta có hiện hữu hay không? Ông chủ có hiện hữu trong chính tự thân quý vị không? Quý vị có làm chủ được mình hay không? Mặt mũi xưa nay của ông chủ có hiện hữu hay không? Thường trụ chơn tâm thể tánh thanh tịnh có hiện hữu hay không?
Nếu những cái đó đều hiện hữu có nghĩa là quý vị đạt được tự tại, còn nếu không hiện hữu có nghĩa là quý vị không có được tự tại. Sự phóng quang cũng mang y nghĩa tự tại nếu quý vị đạt được năng lực tự tại thì quý vị có thể phóng quang, nếu chưa có được năng lực tự tại thì không thể phóng quang được. Thất Phật ra da cũng được dịch là hỏa diệm quang cũng gọi là hỏa quang đó là lửa, nhưng không phải là lửa phát sinh từ tập khí phiền não như quý vị thường nói, tôi vừa nổi nóng như lửa.
Đó cũng không phải là lửa xuất pháp từ sự sân hận phẩn nộ căm hờn của quý vị mà đó chính là lửa trí tuệ, đó cũng chính là nước từ trí tuệ tiết ra để dập tắt lửa vô minh. Trí tuệ chân chính hiển lộ khi lửa vô minh bị dập tắt đó chính là hỏa diệm quang. Khi quý vị trì tụng thất Phật ra da tức là quý vị đang phóng quang, nhưng trước tiên quý vị phải có được năng lực tự tại, không có năng lực tự tại thì quý vị không thể nào phóng quang được, hãy nhớ kỹ điều này! Đây là nhật tinh ma ni thủ nhãn ấn pháp, ấn pháp này có công năng chữa trị bệnh mắt mờ không thấy rõ, dùng ấn pháp này khiến cho mắt được sáng lại.
Dá ra dá ra, dá ra dá ra dịch nghĩa là hành động đó là hành động như quân đội thi hành một mệnh lệnh hành quân, hành quân là một mệnh lệnh nếu quý vị không tuân hành có nghĩa là chống lệnh. Đây là bảo đạt thủ nhãn ấn pháp, khi quý vị rung chuông âm thanh vang lên khắp không gian thông cả thiên đàng chấn động cả địa giới. Nếu quý vị cần thực hiện việc gì chỉ cần rung chuông lớn các loài chư thiên thiện thần yêu ma quỷ quái đều tuân theo mệnh lệnh của quý vị.
Chẳng hạn như khi có động đất quý vị chỉ cần rung chuông lên rồi ra mệnh lệnh quả đất không được rung lên như vậy trái đất trở về trạng thái yên bình ngay. Bảo đạt thủ nhãn ấn pháp cực kỳ diệu dụng, nếu quý vị muốn hát với một âm điệu tuyệt vời thì hãy công phu hành trì ấn pháp này, khi công phu thành tựu rồi tiếng hát của quý vị trong suốt như tiếng đại hồng chung vang lên trong không gian.
Mạ mạ phạt ma ra, mạ mạ hán dịch là ngã sở thọ trì đó chính là một loại mệnh lệnh hành động có nghĩa là mọi việc tôi làm bảo đảm chắc chắn phải được thành tựu, mạ mạ là bạch phất thủ nhãn ấn pháp. Ở trung hoa các đạo sĩ và tăng sĩ Phật giáo thường sử dụng phất trần, các vị cao tăng thường cầm phất trần khi đăng bảo tọa để thuyết pháp.
Bạch phất thủ nhãn ấn pháp có công năng trừ sạch mọi nghiệp chướng của thân trừ được mọi chướng ngại và tật bệnh, chỉ cần phất lên thân vài lần là có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng và chữa lành mọi ma chướng sinh ra bệnh tật. Bạch phất thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều công dụng nhưng người biết cách dùng ấn pháp này lại rất ít, tôi biết hiện nay có rất ít người sử dụng được ấn pháp này.
Năm người tây phương đầu tiên vừa đi thọ giới cù túc ở Đài Loan đã trở về họ đã trở thành những vị tỷ khưu tỷ khưu ni chân chính. Họ vừa đến phi trường vào lúc bốn giờ 30 chiều nay chuyến bay 910 của hãng hàng không trung hoa, ngày nay Phật giáo giảng đường đã có được nhiều xe hơi nên toàn thể Phật tử hộ pháp trong đạo tràng cũng như toàn thể Phật tử ở San Francisco cựu kim sơn hoa kỳ đều có thể ra phi trường để đón mừng các vị tân tỷ khưu.
Bình thường tôi chẳng muốn đến phi trường nhưng trong chuyến bay ấy có chở về vài tượng Phật nên tôi ra phi trường để nghênh đón tượng Phật chứ không phải để đón các đệ tử của tôi. Các đệ tử của tôi cũng không cần tôi đón cũng chẳng cần đưa, khi họ đi Đài Loan thọ giới tôi đã nói với họ rằng, khi mê thì thầy độ khi ngộ rồi tự độ. Nay họ phải tự độ chính họ, họ đã ra đi nay lại trở về chắc chắn họ phải tự tìm ra con đường từ phi trường về chùa, họ chẳng cần tôi phải chỉ dẫn quẹo ở đó đi theo đường này đó là đường về chùa. Điều buồn cười nhất là khi họ viết thư báo cho tôi biết họ đã bỏ quên một thùng kinh.
Tôi bảo bỏ quên kinh chẳng có gì quan trọng, điều quan trọng chính là không có ai trong các con bị bỏ quên. Năm người đi thọ giới và nay năm người đều đã trở về, sau vậy? Vì tôi đã mua bảo hiểm ở chư vị Bồ Tát nên để cho bất kỳ ai bỏ sót lại là điều không thể chấp nhận được. Nếu một người không về tức là chư vị Bồ Tát không thực hiện đúng hợp đồng, thế nên tôi rất tin tưởng rằng tất cả các giới tử sẽ trở về và dịch vụ bảo hiểm của chư vị Bồ Tát không cần phải thanh toán hợp đồng.
Quý vị nên nhớ một điều những người thọ giới cù túc trở về hôm nay là những vị tổ khai sơn của Phật giáo Mỹ quốc. Đừng xem việc này đơn giản, điều này rất chân thật. Đừng như những kẻ tự cho mình là Phật tử chỉ nằm ở nhà mà thích gọi mình là tổ tại gia. Thật vậy, cách đây vài hôm có một vị tổ sư tự phong đến đây và muốn hát tặng cho tôi nghe, tôi giễu cợt ông ta thật chán khi nghe ông hát. Ông ta chỉ bật lên ồ một tiếng rồi bỏ đi.
Phạt ma ra là hàng ma kim cang hộ pháp tay cầm bánh xe bằng vàng, vị hộ pháp này có thể hoá thân lớn như núi Tu Di. Phạt ma ra hán dịch là tối thắng li cấu có nghĩa đó là pháp thù thắng nhất xa lìa tất cả mọi cấu nhiễm ở thế gian, còn có nghĩa là vô tỷ như ý vì không có gì có thể sánh với pháp này và tùy tâm nguyện của mình mà mỗi điều đều xảy ra như ý muốn.
Đây là hoá cung điện thủ nhãn ấn pháp, nếu quý vị hành trì được ấn pháp này thành tựu thì đời đời quý vị sẽ được sống cùng một trụ sứ với đức Phật như trong một cung điện, không còn phải thọ sinh các loài thai sinh noãn sinh và thấp sinh nữa. Công dụng của sự thành tựu ấn pháp này là đời đời được sống cùng chư Phật.